VẤN ĐỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY: THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP
04:59
TÓM
TẮT
Nông
nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước đặc biệt quan
tâm, nó có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ba lĩnh vực này có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong
đó nông dân được coi là “chủ thể” của quá trình phát triển, phát triển kinh tế
là phát triển nông nghiệp, còn phát triển xã hội là phát triển nông thôn. Phát
triển kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng, còn phát triển xã hội gắn liền với nâng
cao phúc lợi của nông dân. Để giải quyết được vấn đề này trong điều kiện hiện
nay, đòi hỏi cần tập trung thực hiện tốt việc: tiếp tục đổi mới nhận thức về vai
trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tập trung phát triển nông nghiệp,
lâm nghiệp và thủy sản; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới; xây dựng đội ngũ chuyên
gia và huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia giải quyết vấn đề
này.
1. VAI TRÒ
CỦA NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC
TA
Với
khoảng 70% dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng những vấn đề liên quan
đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nền kinh tế Việt Nam hơn 20 năm đổi mới
vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu phát triển khả quan. Đặc biệt, giai đoạn
2006-2010, tốc độ GDP nông nghiệp bình quân đạt 3,36%, vượt mục tiêu 3,2%/năm
của Đại hội Đảng lần thứ X đề ra; các lĩnh vực sản xuất: trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp, thuỷ sản có bước phát triển khá. Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước
chuyển biến tích cực. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn như thuỷ lợi,
giao thông nông thôn, hạ tầng thương mại nông thôn về cơ bản đã được chú trọng
đầu tư… Cả nước đã đào tạo cho 345.140 lao động nông thôn, tỷ lệ làm việc sau
học nghề đạt khoảng 70%... Nhờ có những thành tựu, kết quả đó, nông nghiệp không
chỉ đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị-xã hội ở nông thôn và nâng
cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra
nhiều hơn nữa những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
trong những năm qua. Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông
thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển
kinh tế-xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái.
2. MỘT SỐ MỤC
TIÊU VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN
2011-2015
Trong
những năm tới, Đảng ta chủ trương định hướng phát triển nông-lâm-ngư nghiệp toàn
diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với giải quyết tốt vấn đề nông
dân, nông thôn và mục tiêu tổng quát được đề ra trong giai đoạn 2011-2015 là
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, đảm bảo
sự hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó
khăn; xây dựng nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả,
bền vững; từng bước xây dựng nông thôn mới có kết cấu
hạ tầng kinh
tế-xã hội hiện đại;… Từ mục tiêu tổng quát, một số mục tiêu cụ thể đến năm 2015
cũng được xác định, cụ thể là: “Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm
2011-2015: 7,0-7,5%/năm. Năm 2015, GDP bình quân đầu người khoảng 2.000 USD; cơ
cấu GDP: nông nghiệp 17-18%” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 190), “Phấn đấu giá trị gia
tăng nông nghiệp bình quân 5 năm đạt 2,6-3%/năm. Tỷ trọng lao động nông
nghiệp năm 2015 chiếm 40-41% lao động xã hội. Thu nhập của người dân nông thôn
tăng 1,8-2 lần so với năm 2010” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 198). Đồng
thời, “Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và
nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất trang thiết bị, máy
móc làm đất, thu hoạch, bảo quản, chế biến sản phẩm nông-lâm-thủy sản, sản phẩm
xuất khẩu; sản xuất phân bón, thức ăn cho chăn nuôi và thuốc bảo vệ động, thực
vật...” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 193-194).
3. THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN
Thực
tế hiện nay cho thấy, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta vẫn
đang đứng trước nhiều thách thức, cần sớm được tháo gỡ, và chỉ khi nào tháo gỡ
được các vấn đề này mới tạo điều kiện và bảo đảm để chúng ta hướng đến thực hiện
có hiệu quả các mục tiêu phát triển của đất nước nói chung cũng như vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn nói riêng, cụ thể:
Nguồn lực sản
xuất trong nông nghiệp, nông thôn suy giảm và đến lúc tới hạn, đặc biệt nguồn
lực đất đai (diện tích giảm và chất lượng đất kém) cộng với nguồn nước cung cấp
cho nông nghiệp không ổn định do hiện tượng biến đổi khí hậu. Trong khi nguồn
lực đất đai đã chuyển cho công nghiệp hoá, thì nguồn lực lao động (đáng chú ý là
chất lượng lao động) lại chưa gắn kịp theo hướng đó. Để thu hút các nguồn vốn,
phát triển công nghiệp phục vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, hằng năm, gần 10 vạn hécta đất nông nghiệp đã được thu hồi để xây dựng
các khu công nghiệp, dịch vụ, đường giao thông. Khoảng 50% diện tích đất nông
nghiệp thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó có 80% thuộc loại đất
màu mỡ cho hai vụ lúa/năm. Điều đáng nói là, sự dễ dãi và yếu kém trong quy
hoạch cùng tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã dẫn tới tình trạng sử
dụng đất tùy tiện, lãng phí. Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ... đều bám dọc
các quốc lộ huyết mạch, vùng nông thôn trù phú. Hệ quả là, hàng chục vạn hécta
đất "bờ xôi ruộng mật" đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc
làm, thu nhập và đời sống của hàng chục vạn hộ gia đình nông thôn và hàng triệu
lao động nông nghiệp.
Chi
phí đầu vào của nông nghiệp ngày càng tăng so với giá đầu ra khiến giá trị thu
nhập của nông dân ngày càng giảm sút. Lợi thế cạnh tranh trong nông nghiệp giảm,
nhu cầu thị trường ngày càng tăng cao về chất lượng hàng nông sản, nên nông
nghiệp bản thân đã yếu (với chất lượng hàng nông sản thấp) lại càng trở nên kém
lợi thế trong bối cảnh mới. Trong khi đó, cam kết quốc tế lại hạn chế khả năng
bảo hộ thị trường hàng nông sản. Thị trường hàng nông sản giá rẻ với chất lượng
thấp trước đây sẽ không có cơ hội mở mang. Nếu mô hình tăng trưởng trong 10 năm
tới lấy mục tiêu phát triển con người là trung tâm và chủ yếu dựa vào nguồn nhân
lực chất lượng cao (trí tuệ, tiềm năng công nghệ lớn) thì có lẽ thách thức lớn
của nông nghiệp, nông thôn nước ta sắp tới là sức ép về việc làm đối với lực
lượng lao động nông thôn sẽ ngày một lớn do chất lượng lao động nông nghiệp,
nông thôn còn rất thấp cộng với một bộ phận nông dân không có khả năng thích
nghi với điều kiện sản xuất mới sẽ bị “đào thải”. Do đó, nhu
cầu lao động phổ thông và giản đơn giảm dần. Theo Tổng cục
Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong
đó khu vực thành thị là 4,43% và khu vực nông thôn là 2,27%. Tỷ lệ lao động khu
vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2% năm
2010...
Theo số liệu
từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, “trình độ học vấn, chuyên
môn và kỹ năng nghề nghiệp của lao động nông thôn còn thấp so với mặt bằng
chung. Cụ thể, lao động có trình độ trung học phổ thông chỉ chiếm 13,7%, tốt
nghiệp trung học cơ sở 34,6%, tiểu học 20%. Ước tính, hiện có đến 83% lực lượng
lao động nông thôn chưa qua đào tạo, chỉ có hơn 2% có bằng cao đẳng hoặc đại
học, với khoảng 700.000 người; 3% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp; 3% có
chứng chỉ sơ cấp hoặc tập huấn nghề ngắn hạn. Điều đáng quan tâm là có tới 8,7%,
với gần 2.900.000 người được gọi là công nhân kỹ thuật nhưng chưa được cấp bất
kỳ loại văn bằng hoặc chứng chỉ nghề nghiệp nào” (Báo Hà Nội mới, 2010). Trong
khi đó, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong suốt thời kỳ dài chưa
được quan tâm thường xuyên, đúng mức. Các cơ sở dạy nghề tập trung nhiều ở đô
thị lớn, còn ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa có rất ít. Trong quá trình
xây dựng nông thôn mới, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những
tiêu chí quan trọng được đặt lên hàng đầu. Công tác đào tạo nghề mở ra cơ hội
làm chuyển biến, chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn, cung cấp nhân
lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước càng trở nên cấp
thiết.
Nông nghiệp,
nông thôn là địa bàn đang phải hứng chịu những hậu quả về môi trường. Việc sử
dụng không hợp lý, lãng phí quĩ đất canh tác; tình trạng san lấp, lấn chiếm ao
hồ, sông, suối, các công trình thủy lợi; nạn đốt phá rừng, khai thác khoáng sản
tuỳ tiện cùng với sự yếu kém trong xử lý nước thải, rác thải, bụi, khói, tiếng
ồn… đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái, gây ô nhiễm
môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, đời sống và
sức khỏe của nông dân, giảm thiểu khả năng đề kháng, thậm chí làm trầm trọng
thêm những tai biến của tự nhiên. Chẳng hạn: Hàng năm, nước ta sử dụng trung
bình 15.000 - 25.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật, mỗi năm hoạt động nông nghiệp
phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nông nghiệp nguy hại, chủ yếu là thuốc bảo
vệ thực vật, trong đó không ít loại thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng. 100%
làng nghề đã xuất hiện đầy đủ các dạng ô nhiễm môi trường như: Vật lý, hóa học,
sinh học. Đặc tính chung của nước thải, rác thải làng nghề là giàu chất hữu cơ,
dễ phân huỷ sinh học (Diễn đàn các Nhà báo Môi trường Việt Nam,
2009).
Trong bối
cảnh hiện nay, khó khăn lớn nhất của nông dân là khắc phục nhược điểm của chính
bản thận họ, của chính nền kinh tế tiểu nông. Bên cạnh đó, với sức ép của thị
trường trong nước đặc biệt là thị trường quốc tế khi thực hiện cam kết hội nhập,
một bộ phận nông dân quen với sản xuất nhỏ lẻ manh mún, không có kiến thức hoặc
không chịu trau dồi kiến thức để thích hợp với nông nghiệp công nghệ cao sẽ bị
“đào thải”. Cùng với đó, nó sẽ đặt nông dân nhỏ ở Việt Nam vào một cuộc cạnh
tranh không cân sức với các hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn
được tổ chức chặt chẽ và trợ cấp dồi dào cũng như bảo hộ nông nghiệp ở mức độ
cao (ở những nước phát triển) trong bối cảnh toàn cầu hoá. Ngoài ra, nông dân bị
thu hồi đất còn phải đối mặt với vấn đề công ăn, việc làm, tình trạng giá cả
sinh hoạt leo thang, hoạn nạn khi ốm đau bệnh tật, gánh nặng viện phí, học phí…
đều là những câu chuyện nan giải triền miên.
4. GIẢI PHÁP
ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN
Xuất phát từ
những khó khăn, thách thức đang đặt ra cũng như yêu cầu của quá trình phát triển
đất nước, theo chúng tôi, để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông
thôn trong điều kiện hiện nay, cần tập trung vào các vấn đề cơ bản
sau:
Một
là, tiếp tục đổi mới nhận thức về vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông
thôn
Đổi
mới nhận thức của Nhà nước, các ngành, các cấp về vai trò của nông nghiệp, nông
thôn và nông dân trong tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu lao động xã hội theo hướng CNH, HĐH. Theo
đó, phát triển nông nghiệp toàn diện và vững chắc gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường xuất khẩu nông sản là yêu cầu và điều kiện tiên quyết để thực hiện
CNH, HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân. Muốn vậy, cần đổi mới quan
điểm, nhận thức về vai trò và vị trí của mặt trận nông nghiệp trong cơ cấu kinh
tế quốc dân thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH phải gắn phát triển công nghiệp chế biến
nông, lâm, thủy sản với chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngành này. Từ đổi mới nhận
thức phải tạo sự đột phá về tổ chức và quản lý cùng với hoàn thiện cơ chế chính
sách, cơ sở pháp lý trong nông nghiệp theo hướng kinh tế thị trường định hướng
XHCN, có sự quản lý của nhà nước theo quy hoạch và kế hoạch với cơ chế chính
sách phù hợp. Trong cơ chế chính sách cần tập trung vào vấn đề bảo vệ lợi ích
chính đáng của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá và hội nhập
kinh tế. Phát triển nông thôn toàn diện cả về cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội và
chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn, bảo vệ
môi trường sinh thái. Cần khẩn trương nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện các chính
sách đối với giai cấp nông dân và lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH
và hội nhập phù hợp với Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thu hẹp khoảng cách về thu nhập, đời
sống giữa nông thôn và thành thị một cách cơ bản, lâu dài. Giảm mạnh tỷ lệ hộ
nghèo và xu hướng tái nghèo ở nông thôn.
Hai
là, mục tiêu, giải pháp phát triển nông nghiệp
Đảng ta nhận
thức về mục tiêu phát triển nông nghiệp trong điều kiện sự biến đổi về môi
trường sống trên hành tinh đang diễn ra hết sức phức tạp, đe dọa sự sống của
hàng tỷ người, nhất là đối với các nước nghèo. Trong điều kiện như vậy, phải
phát triển một nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền
vững. Phát triển nông nghiệp đòi hỏi phải chú ý đến tất cả các mặt, các bộ phận
của nông nghiệp (theo nghĩa hẹp nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, sơ
chế nông sản). Hiện nay, cần chú ý phát triển nông nghiệp chuyên sâu, chuyên môn
hoá các khâu của sản xuất nông nghiệp, tích cực ứng dụng khoa học công nghệ
trong trồng trọt, chăn nuôi, từ đó nâng cao hiệu quả của nông nghiệp. Tính hiệu
quả trong nông nghiệp còn là sự phát triển bền vững, nghĩa là sự phát triển của
nông nghiệp gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ, của kinh tế tri
thức. Sự phát triển nông nghiệp toàn diện bền vững là bền vững về sinh thái; lợi
ích về kinh tế; lợi ích xã hội đối với nông dân và cộng đồng.
Về
cơ cấu trong nông nghiệp, Đảng ta xác định phát triển nền nông nghiệp hiện đại
sản xuất hàng hóa góp phần nâng cao hiệu quả của nông nghiệp nhiệt đới. Một nền
nông nghiệp hiện đại đòi hỏi phải thực hiện một loạt các giải pháp, trong đó
phải khắc phục tình trạng manh mún đất đai, đẩy mạnh cơ giới hoá, áp dụng công
nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật
nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp,
vùng chuyên môn hóa, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn. Đặc
biệt, để phát huy những lợi thế của nông nghiệp nhiệt đới, để đẩy mạnh sản xuất
nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, hiện đại đòi hỏi phải thực hiện tốt liên
minh công-nông, trong đó có vai trò nòng cốt của Nhà nước và đẩy mạnh phát triển
công nghiệp, dịch vụ, cũng như các tổ chức chính trị-xã hội. Đại hội XI khẳng
định phải thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ “bốn nhà” (nhà nông, nhà khoa học,
nhà doanh nghiệp, nhà nước) và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ ở khu vực nông thôn. Phát triển các hiệp hội nông dân và các tổ chức
khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, tạo điều kiện để các tổ chức này hoạt động
thiết thực, có hiệu quả.
Ba
là, đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, thủy sản
Phát triển
lâm nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cả rừng sản xuất, rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng; tăng diện tích trồng rừng và độ che phủ rừng trên cơ sở
khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư. Có cơ chế, chính sách
hỗ trợ để người dân có thể sống, làm giàu từ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; hình
thành các tổ hợp trồng rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản và
phát triển các vùng rừng chuyên môn hóa bảo đảm đáp ứng ngày càng nhiều hơn
nguyên liệu trong nước cho công nghiệp chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, giấy.
Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợi thế
từng vùng gắn với thị trường; coi trọng hình thức nuôi công nghiệp, thâm canh là
chủ yếu đối với thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn; gắn nuôi trồng với chế
biến bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh việc đánh bắt hải sản xa bờ
với ứng dụng công nghệ cao trong các khâu tìm kiếm ngư trường, đánh bắt và hiện
đại hoá các cơ sở chế biến thuỷ sản. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở
dịch vụ phục vụ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, xuất khẩu thuỷ
sản.
Bốn là, xây
dựng nông thôn mới
Một trong
những nội dung được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là vấn đề xây dựng nông thôn mới. Mặc
dù đã có nhiều văn kiện, nghị quyết chỉ đạo và đã được chính phủ cụ thể hóa
trong bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg
ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh các nội
dung của việc xây dựng nông thôn mới. Theo đó, xây dựng nông thôn mới phải có
các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, phù hợp với đặc điểm từng
vùng, phải kết hợp chặt chẽ việc xây dựng nông thôn mới với việc giữ gìn và phát
huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam. Xây dựng nông thôn mới
phải chú trọng tới xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là hạ
tầng về giao thông, thủy lợi… đi liền với đó là đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công
nghệ, công nghiệp chế biến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh
của sản phẩm để nâng cao đời sống của cư dân nông thôn; trồng, chăn nuôi các
loại cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, có sức cạnh tranh và lợi thế
trên thị trường… tạo môi trường thuận lợi cho thu hút và khai thác các đầu tư
vào nông nghiệp, nông thôn, tạo cơ hội việc làm cho nông dân, theo mục tiêu đào
tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm.
Triển khai
mạnh mẽ cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với
xây dựng nông thôn mới”; đồng thời, đẩy mạnh việc thực hiện Phong trào thi đua
“Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”. Xây dựng nông thôn mới còn phải chú
ý tới thực hiện chế độ chính sách, bảo đảm công bằng cho người nghèo và có
phương án dự phòng thiên tai cho người dân. Cần thường xuyên quan tâm tới giáo
dục, đào tạo ở vùng nông thôn, đây là vấn đề cốt lõi để tạo nguồn nhân lực thực
hiện Chương trình. Vì vậy, các cấp, ngành, địa phương cần đặc biệt lưu ý đầu tư
phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ, dân trí cho người dân nông thôn,
trong đó cần hết sức lưu ý tới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn với
các hình thức đào tạo phong phú, đa dạng. Song song với đào tạo phổ thông, đại
học cần đa dạng hóa hơn nữa việc đào tạo nghề để tạo tiền đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế; thoát nghèo. Bên cạnh đó, ở mỗi địa phương, cũng cần tăng cường, củng
cố công tác xây dựng, phát triển hệ thống chính trị cơ sở để giữ vững an ninh
nông thôn, đảm bảo cho phát triển kinh tế-xã hội. Ngoài ra, “Phát triển hài hoà
giữa thành thị và nông thôn. Phát triển đô thị phù hợp với quá
trình phát triển kinh tế, theo quy hoạch dài hạn, không khép kín theo ranh giới
hành chính và xử lý đúng mối quan hệ giữa đô thị hoá và hiện đại hoá nông thôn.
Đẩy mạnh việc đưa công nghiệp và dịch vụ về nông thôn để hạn chế tình trạng nông
dân ra các thành phố, đồng thời không để một khu vực lãnh thổ rộng lớn nào trống
vắng đô thị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 203-204).
Năm
là, xây dựng đội ngũ chuyên gia làm nòng cốt và huy động lực lượng của toàn xã
hội tham gia giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông
thôn
Để
làm chuyển biến khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vấn đề tiên quyết là
phải có chủ trương chính sách đúng. Tuy nhiên, sau khi có chủ trương chính sách
đúng, nhân tố quyết định lại là con người. Do đó cần đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức
được đội ngũ cán bộ và các chuyên gia-những người, những bộ phận, những lực
lượng có trọng trách chính trong việc phát triển nông nghiệp, nông dân và nông
thôn. Bộ phận nòng cốt này bao gồm các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học,
đội ngũ cán bộ khuyến nông… làm công tác chỉ đạo ở Trung ương và trực tiếp làm
việc ở nông thôn, và trong lĩnh vực nông nghiệp (bao gồm cả đội ngũ cán bộ của
các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương và các địa phương). Trách nhiệm được đề
cập ở đây được hiểu là những việc làm thiết thực và có hiệu quả chứ không phải
là một phạm trù đạo đức. Sau đội ngũ cán bộ, phải tạo bước chuyển biến mới trong
đào tạo nghề cho người nông dân. Bản chất của vấn đề đang được bàn luận ở đây là
ở chỗ đất nước vừa phải đào tạo được đội ngũ những “chuyên gia” giỏi về chuyên
môn thực sự để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vừa phải toàn
dụng lực lượng lao động ở nông thôn. Tiếp đến là phải phát động cho được trách
nhiệm của toàn xã hội, toàn xã hội phải tham gia giải quyết vấn đề nông nghiệp,
nông dân, nông thôn.
Nông nghiệp
phải được coi là nền tảng để ổn định phát triển kinh tế-xã hội. Muốn vậy, chính
sách đối với nông dân phải được coi là trung tâm trong hệ thống chính sách của
Đảng và Nhà nước. Biểu hiện của nhận thức đó phải được thể hiện bằng các biện
pháp phát triển nông nghiệp, nông
thôn bền vững, thu hẹp về khoảng cách và tốc độ phát triển giữa khu vực nông
thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân. Phát
triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cải thiện đời sống nông dân không phải
chỉ là trách nhiệm, việc làm riêng của Đảng, Chính phủ hay của giai cấp nông
dân, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Tập trung nỗ lực của toàn Đảng,
toàn dân, mọi cấp mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, mọi thể nhân và pháp nhân;
nỗ lực của tất cả các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế, quy mô
ngành nghề kinh doanh, nếu có liên quan đến ngành nông nghiệp, người nông dân và
khu vực nông thôn thì đều phải có trách nhiệm chung tay với Nhà nước, chung sức
với người nông dân để giải quyết.
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1. Báo Hà Nội
mới. Dạy nghề cho lao động
nông thôn - Thay đổi cung cách phù hợp vùng miền. http//hanoimoi.com.vn,
ngày 9/12/2010.
2. Diễn đàn
các Nhà báo Môi trường Việt Nam. Ô nhiễm môi trường ở
nông thôn đang báo động. http//www.vfei.vn/vn, ngày
14/9/2009.
3. Đảng Cộng
sản Việt Nam. 2011. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.