SỰ LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
06:19
Trên
cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những bài học kinh nghiệm rút
ra từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nhất là những kinh
nghiệm thực tiễn của cách mạng nước ta, Đảng ta đã đi đến một quan niệm
về Xã hội xã hội
chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc
trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
trên thế giới.
Đảng
ta không tư duy chủ nghĩa xã hội theo mô hình cứng nhắc, được thiết kế sẵn hoặc
sao chép. Đảng ta chỉ xác định những giá trị tạo thành bản chất của chủ nghĩa xã
hội, có tính ưu việt vượt xa xã hội tư bản chủ nghĩa và xác định những mục tiêu
cần phấn đấu để xây dựng xã hội ở nước ta. Đồng thời, Đảng ta cũng nhận thấy
đây là
một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái
mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát
triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen.
Dựa
trên sự phân tích khoa học những thiếu sót trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội của các Đảng anh em và nhất là của bản thân mình, Đảng ta đã xác định những
phương hướng cơ bản của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ
nhằm tới mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh theo các phương hướng cơ bản sau
đây: Một
là, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức,
bảo vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ba
là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây
dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Năm
là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình,
hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân
tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh.
Dưới
ánh sáng của quan niệm và những phương hướng đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta
giành được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước: nền
kinh tế tăng trưởng khá, đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; công
nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh; đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân được nâng lên; quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế nước ta trên trường
quốc tế được nâng cao; an ninh quốc phòng được giữ vững, chính trị của đất nước
được ổn định.
Những
thành tựu mà công cuộc đổi mới trong hơn hai mươi năm qua giành được đã chứng
minh hùng hồn quan niệm về chủ nghĩa xã hội và những phương hướng xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta mà Đảng ta đã đề ra là đúng đắn và
sáng tạo. Ở đây, chỉ xin nhấn mạnh một số vấn đề sau:
Một
là, chúng
ta đang thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần nhằm phát triển lực lượng sản
xuất, phát triển nền sản xuất xã hội phục vụ đời sống của nhân dân, phục vụ công
cuộc xây dựng đất nước
Trong
công cuộc đổi mới chúng ta đã khắc phục thiếu sót trong nhận thức và vận dụng
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, vai trò của mỗi thành phần là khác nhau,
thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể
tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Trong chặng đường đầu của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, doanh nghiệp nhà nước chưa cần nhiều nhưng phải là
những doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và trên những
địa bàn quan trọng. Trong quá trình xây dựng, cùng với sự phát triển của lực
lượng sản xuất phải từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đó
là đòi hỏi khách quan, vì chủ nghĩa xã hội khi được xây dựng xong thì quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa phải chiếm ưu thế. Nhưng Đảng ta đã không nóng vội,
chủ quan, duy ý chí, mà phải dựa trên sự phát triển của lực lượng sản
xuất.
Trong
việc sắp xếp lại các doanh nghiệp, Nhà nước phải có chính sách và biện pháp làm
cho doanh nghiệp quốc doanh thực sự là đại diện cho lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất tiên tiến trong nền kinh tế quốc dân, đi đầu trong ứng dụng khoa học
và công nghệ tiên tiến, nêu gương về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế,
về năng lực cạnh tranh, về khoa học quản lý, về thực hiện nguyên tắc phân phối
theo lao động và chăm lo đời sống của công nhân. Đối với kinh tế tập thể, nhất
là hợp tác xã, phải làm cho thành phần kinh tế này hoạt động ngày càng có hiệu
quả, khắc phục những yếu kém về cơ sở vật chất kỹ thuật, về trình độ khoa học,
về năng lực quản lý để làm cho chất lượng của thành phần kinh tế này ngày càng
nâng lên.
Chúng
ta đề ra các thành phần kinh tế đều bình đẳng và được khuyến khích phát triển để
mang lại ích nước, lợi nhà, nhưng điều đó chỉ có ý nghĩa là các thành phần kinh
tế đều bình đẳng trước pháp luật, thành phần nào, cơ sở nào hoạt động trái với
pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật chứ không có nghĩa là từ bỏ sự quan tâm
đối với các thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể để tạo ra nền tảng
vững chắc cho nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ, tạo ra lực lượng vật
chất bảo đảm cho Nhà nước đấu tranh để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của
công cuộc xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ.
Hai
là, nền
kinh tế nhiều thành phần gắn với cơ chế thị trường để phát triển được cần phải
xây dựng một hệ thống thị trường đồng bộ, bao gồm: thị trường hàng hoá và dịch
vụ, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị
trường khoa học và công nghệ… Các yếu tố của hệ thống trên tuy có được Nhà nước
xây dựng nhưng còn sơ khai. Nền kinh tế thị trường chứa đựng cả mặt tích cực và
tiêu cực. Sự cạnh tranh đi đến phân hoá giàu nghèo đã thúc đẩy con người chạy
theo lợi ích trước mắt, cục bộ, ít nghĩ đến lợi ích lâu dài, toàn cục; hoặc chạy
theo lợi ích cá nhân, thờ ơ với lợi ích của cộng đồng, của xã hội như bảo vệ tài
nguyên, môi trường nên dẫn đến những hậu quả nặng nề cho đất
nước.
Nền
kinh tế thị trường của ta là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, trong đó
sự phân bổ các nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân chủ
yếu là do thị trường quyết định, nhưng Nhà nước đóng một vai trò cực kỳ quan
trọng trong điều tiết vĩ mô bảo đảm giữ vững sự cân đối và sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân. Nhà nước phải thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ
chế, chính sách và luật pháp mà quản lý và luôn luôn quán triệt tính giai cấp
của quản lý để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ cho lợi ích của
quần chúng nhân dân. Thông qua các công cụ trên đây và thực lực kinh tế của mình
(kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể) để Nhà nước điều tiết vĩ mô. Đồng thời, ngăn
chặn và xử lý những lệch lạc nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho
sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công
bằng xã hội, giữ gìn và sử dụng tài nguyên quốc gia nhằm bảo tồn và phát triển
nó. Chỉ có như vậy mới có thể duy trì và phát huy được các ưu điểm và hạn chế,
khắc phục những nhược điểm, khuyết điểm vốn có của nền kinh tế thị trường, bảo
đảm cho nền kinh tế đó phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng
trên thực tế, các yêu cầu đã chưa được đáp ứng và chất lượng quản lý còn rất
nhiều hạn chế. Do vậy, cần tập trung xây dựng hệ thống công cụ này để công tác
quản lý phát huy được mặt tích cực, hạn chế được mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất
nước.
Ba
là, xu
thế của thời đại là hoà bình, hợp tác và phát triển, không một nước nào đứng
ngoài xu thế đó mà có thể phát triển nhanh và bền vững. Vì thế, ta đã chủ động
hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Trước thời cơ và thách thức, chúng ta cần
có bản lĩnh và sáng tạo để hội nhập nhưng không hoà nhập; hợp tác nhưng không từ
bỏ đấu tranh, bởi có đấu tranh mới thực hiện được mục đích của hợp tác; đặc biệt
là đi đôi với hội nhập, ta phải xây dựng một nền kinh tế độc lập và tự
chủ.
Nền
kinh tế độc lập tự chủ đòi hỏi chúng ta phải biết tận dụng những thuận lợi của
thời đại để thu hút vốn, kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm
quản lý, mở rộng thị trường. Nhưng, chúng ta không chấp nhận điều kiện của bất
kỳ ai, bất cứ một viện trợ nào kèm theo điều kiện có hại cho lợi ích quốc gia,
dân tộc. Để chủ động hội nhập khu vực, quốc tế và xây dựng một nền kinh tế độc
lập, tự chủ thì trước hết phải nghiên cứu nắm vững thực tiễn của nền kinh tế đất
nước và xác định những yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
thời kỳ quá độ. Cần xây dựng một chiến lược kinh tế xã hội, chiến lược đầu tư
sản xuất, kinh doanh và lộ trình hội nhập khu vực, thế giới trên cơ sở khoa học
và sát với thực tiễn Việt Nam.
Bốn
là, sự
phát triển của khoa học và công nghệ như vũ bão trong thời đại ngày nay đã đưa
lại kinh tế tri thức, trong đó lao động trí óc thay dần cho lao động cơ bắp và
khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đòi hỏi một sự phát triển về
khoa học công nghệ của nước ta. Xây dựng một chiến lược về khoa học và công
nghệ, trong đó hết sức coi trọng nghiên cứu cơ bản và phát triển một số khoa học
mũi nhọn như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,
công nghệ chế tạo và tự động hoá đang là một đòi hỏi khách quan và cần tập trung
đầu tư triển khai một cách tích cực. Việc hội nhập quốc tế để tranh thủ kỹ thuật
hiện đại và công nghệ tiên tiến đòi hỏi chúng ta phải nhạy bén sáng suốt, có sự
am hiểu chuyên môn nhằm khắc phục nhập khẩu kỹ thuật lạc hậu của các nước phát
triển; giúp đất nước vừa tiến tuần tự vững chắc, vừa có những bước nhảy vọt về
khoa học và công nghệ.
Để
nâng cao vai trò khoa học và công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất, giáo
dục và đào tạo của đất nước cần có những chuyển biến mạnh mẽ để phát huy tốt
nhất nhân tố con người, làm cho con người trở thành yếu tố sống động nhất trong
lực lượng sản xuất, tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt cho nền kinh tế, làm
nòng cốt cho sự phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời bảo đảm quốc phòng,
an ninh. Thực tế đó làm cho công tác giáo dục, đào tạo trở thành lĩnh vực quan
trọng nhất của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ. Công tác khoa
học và công nghệ cũng như công tác giáo dục và đào tạo phải gắn liền với xây
dựng và phát triển nền kinh tế của đất nước.
Năm
là, cần
nhận thức đúng và khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường, đẩy lùi chủ nghĩa
cá nhân, sự "thương mại hoá" các lĩnh vực của đời sống xã hội và tình trạng con
người lấy đồng tiền làm lẽ sống.
Trong
quần chúng nhân dân, các hiện tượng làm ăn phi pháp, dối trá, lừa đảo, đầu cơ
tích trữ, gian lận thương mại… đang diễn ra hàng ngày. Trong cán bộ, đảng viên
có chức, có quyền thì tham nhũng đang là một tệ nạn lớn, đã được Đảng coi là
quốc nạn, là một trong nguy cơ của đất nước. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chỉ
thị, nghị quyết và việc làm để chống lại các tệ nạn trên, nhưng đến nay hiệu quả
cũng còn hạn chế. Việc tìm ra nguyên nhân của sự hạn chế này đang là một đòi hỏi
cấp bách. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng phải chăng có mấy vấn đề chủ yếu
sau: Thứ nhất, chưa
thấy hết nguồn gốc của những tệ nạn trên để có phương hướng công tác tư tưởng
đúng và làm trong sạch bộ máy Đảng, chính quyền các cấp. Thứ
hai, chưa thấy hết thực trạng của những tiêu cực để khắc phục,
đặc biệt là kết hợp tốt công tác giáo dục chính trị, đạo đức với hoạt động của
luật pháp.
Sáu
là, chúng
ta đấu tranh cho một nền hoà bình bền vững để xây dựng đất nước, nhưng không thể
mất cảnh giác với âm mưu của kẻ thù đối với nước ta.
Cuộc
đấu tranh chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ là một cuộc đấu tranh toàn
diện trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vô cùng phức tạp. Điều đó đòi
hỏi chúng ta phải chống lại mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù một cách liên tục,
kiên quyết, không khoan nhượng, nhưng lại phải khôn khéo trong môi trường hợp
tác. Hơn nữa, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ có chống "diễn biến hoà
bình", bạo loạn lật đổ, mà còn phải sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm
lược. Chiến lược "ra tay trước đánh đòn phủ đầu", chủ nghĩa đơn phương và thái
độ lộng hành của chủ nghĩa đế quốc đòi hỏi chúng ta phải cảnh giác. Trước chiến
lược mới của kẻ thù, không thể coi nhẹ sự nghiệp bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ, bao gồm cả trên mặt đất, trên biển, trên không, nhất là trong tình
huống địch tiến hành chiến tranh hiện đại sử dụng công nghệ cao. Với điều kiện
của đất nước ta hiện nay, nếu chiến tranh xảy ra thì phải lấy chiến tranh nhân
dân nhưng là chiến tranh nhân dân hiện đại để đánh thắng kẻ thù. Vì vậy, không
thể dừng lại ở những kinh nghiệm chiến tranh đã có, mà phải tiếp tục nghiên cứu
phát triển lên một tầm cao mới. Chiến lược quốc phòng cần được tiếp tục nghiên
cứu, bổ sung và triển khai một cách tích cực để có thể đánh thắng mọi cuộc chiến
tranh xâm lược hiện đại nếu xảy ra.
Trước
thời cơ và thách thức lớn, chúng ta tin rằng: Đảng ta sẽ biết phát huy truyền
thống đạo đức và trí tuệ trong lãnh đạo cách mạng trước đây vào hoàn cảnh lịch
sử mới, ra sức tiến hành công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, không ngừng học tập và rèn luyện, chuẩn bị tốt hơn nữa hành trang về đạo
đức và trí tuệ cho sự nghiệp đầy khó khăn và phức tạp trong giai đoạn mới. Hiện
nay, nếu toàn Đảng, toàn dân, toàn dân tộc đồng lòng nhất trí, toàn tâm, toàn ý
khắc phục những tệ nạn tiêu cực trong xã hội, trong Đảng, Nhà nước, ngăn chặn
mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, khắc phục những bất cập về đạo
đức, về trí tuệ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì sự nghiệp nhất
định sẽ thành công.