THỰC HIỆN ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
07:09
Đoàn kết tôn
giáo là một trong những cơ sở nền tảng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, là bộ phận hữu cơ bảo đảm cho cách mạng giành được thắng lợi dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản. Bàn về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ
dẫn vô cùng quý báu, là cơ sở, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, Nhà nước
ta trong nhận thức và giải quyết vấn đề tôn giáo, cụ thể trên các nội dung cơ
bản sau:
Một là, đoàn kết tôn giáo
trên cơ sở lợi ích chung của dân tộc, bảo đảm sự bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ công dân
Để
bảo đảm sự đoàn kết giữa các lực lượng được bền chặt, thống nhất phải dựa trên
cơ sở lợi ích, đó là sự kết
hợp, giải quyết hài hòa giữa lợi ích dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân
dân lao động, trong đó có bộ phận quan trọng là đồng bào giáo dân. Lợi ích đó
là: Đất nước phải có độc lập, nhân dân phải được sống trong tự do, có đời sống
ấm no, hạnh phúc, ai cũng được học hành, được thực hiện các quyền và nghĩa vụ
công dân. Trong cuộc tổng Tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa,
Hồ Chí Minh khẳng định: “tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền bầu
cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”[1],
và khi đất nước bị xâm lăng thì “bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ,
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên
đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc... Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu
nước”[2]. Trong
xã hội dân chủ, nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ trong thực hành dân
chủ, Hiến pháp
năm 1946 và năm 1959 do Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng đã chỉ rõ: “Nhà nước
bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự
do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân”[3]... Những
quyền đó phải đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân theo hiến pháp, pháp
luật.
Hai
là, thực hiện đoàn kết rộng
mở
Hồ Chí Minh luôn chú trọng đoàn kết với đồng
bào Công giáo là Việt kiều ở nước ngoài. Trong buổi nói chuyện với bà con Việt
kiều, trong đó có đồng bào Công giáo nhân chuyến đi thăm Pháp năm 1946, Hồ Chí
Minh đã nói rằng: phái đoàn sang đây mang đến cho đồng bào một món quà, không
phải bánh trái, không phải tiền bạc mà là tinh thần dân tộc “Đoàn kết trên hết,
Tổ quốc trên hết”. Đoàn kết những người cộng sản với những người theo tôn giáo.
Khi trả lời cho câu hỏi người Công giáo có thể vào Đảng Lao động được không? Hồ
Chí Minh đã trả lời: “Có. Người Công giáo nào cũng được, miễn là trung thành,
hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng. Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ
thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện
tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được”[4].
Ba là, tôn trọng niềm tin, bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo
Tự
do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân-đó là
quyền thiêng liêng, căn bản của mỗi người không ai được xâm phạm hoặc làm tổn
hại. Quyền tự do ấy đã được khẳng định trong Tuyên ngôn độc
lập ngày 2/9/1945: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình
đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những
quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Tức là, “mọi
người có quyền tự do tin đạo hay không tin, không ái được cưỡng bách và khinh rẻ
họ… Ngày nay chính sách của Đảng Cộng sản là bảo hộ tôn giáo và ngày sau cũng
vậy”[5].
Mọi sự áp đặt, o ép và cưỡng ép đều là trái với quyền tự do tín ngưỡng và có
nghĩa là vi phạm hiến pháp và pháp luật hiện hành của nước ta. Tại chương II,
mục B, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (năm 1946), đã ghi
rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Nếu ai làm sai Hiến pháp,
khiêu khích công giáo sẽ bị phạt. Ngày 14/6/1955, Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc
lệnh 234/SL về vấn đề tôn giáo, trong đó khẳng định: “Chính phủ bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng và tự do thờ cúng, quyền theo hoặc không theo bất cứ tôn giáo
nào”, “tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo” và “khi truyền bá tôn giáo”,
các tổ chức tôn giáo được sử dụng sách báo tôn giáo, được phép mở trường tư thục
theo chương trình giáo dục của Chính phủ.
Bốn là, Đảng, Nhà nước
có trách nhiệm chăm lo đời sống của giáo dân
Để tập hợp và
đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến lợi ích thiết thực của
giáo dân, cả phần đời và phần đạo, cả phần xác và phần hồn, bởi “phần xác có no
ấm thì phần hồn mới thong dong”, cho nên nước độc lập mà dân không được ấm no,
hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì. Do đó, đồng bào và chiến sĩ cả
nước phải quan tâm, chăm lo
đến đời sống của đồng bào tôn giáo; Chính phủ cần có
chính sách cụ thể để cải thiện cuộc sống cho đồng bào, động viên, khuyến khích
mọi người tích cực tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần; đồng bào lương, giáo phải đoàn kết cùng
nhau lao động, sản xuất chăm lo xây dựng cuộc sống mới, hăng hái tham gia mọi
công việc xây dựng Tổ quốc; tôn
trọng niềm tin của đồng bào có đạo, bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hóa
tôn giáo, các sinh hoạt tôn giáo.
Năm là, phát
huy những yếu tố tương đồng
Để
thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn chủ trương phát huy những yếu tố tương đồng, khắc phục những dị biệt,
kiên quyết tránh xúc phạm đến đức tin của đồng bào có tôn giáo. Điểm tương đồng
ở đây, trước hết, giữa các tôn giáo chân chính
xét đến cùng đều có hy vọng giải thoát con người, mong muốn con người được sung
sướng tự do, hạnh phúc. Người khẳng định: “Phật sinh ra để lợi lạc quần sinh, vô
ngã vị tha”, “Đức Giê su hy sinh là vì muốn loài người được tự do, hạnh
phúc”...; trong chế độ cũ, phần lớn các tín đồ tôn giáo đều là những người lao
động bị áp bức bóc lột; ở họ đều có tinh thần yêu nước thực sự,... chính vì thế,
họ là lực lượng của cách mạng, là bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết
toàn dân.
Không chỉ
nhấn mạnh sự tương đồng giữa các tôn giáo mà Người còn tìm ra sự tương đồng giữa
các tôn giáo với chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội, chính là tinh thần “không có
gì quý hơn độc lập tự do”; là xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, hoà bình,
thống nhất, dân chủ và giầu mạnh, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân
dân, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới, bởi vì, “Nước
không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc
lập đã”[6].
Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo không tách rời với vận mệnh dân tộc, vận mệnh
đất nước, cho nên, mọi người dân Việt Nam dù có tín ngưỡng hay không đều phải
góp phần mình để giành và giữ nền độc lập nước nhà.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng những người đã sáng lập ra một số tôn giáo lớn
và tranh thủ, cảm hóa các chức sắc cũng như quan tâm đến đồng bào có đạo, động
viên họ tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc; tôn trọng, gạn đục,
khơi trong, giữ gìn và tiếp biến những giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo
lớn để làm phong phú, đa dạng nền văn hóa của dân tộc. Cùng với đó, Người luôn
chủ trương giúp đỡ các tôn giáo lập ra các tổ chức yêu nước để phát huy nội lực
đoàn kết yêu nước của họ. Ngày 15/3/1946, Người ký quyết định thành lập Việt Nam
Phật giáo Hội; ngày 06/3/1946, Liên đoàn Công giáo Việt Nam ra
đời.
Những
việc làm trên của Người đã như một luồng sinh khí mới thổi vào tâm hồn của những
tín đồ yêu nước kính Chúa, tôn thờ Đức Phật, khơi dậy lòng nhiệt tình cách mạng,
xoá bỏ những rào cản giữa các tôn giáo để cùng cộng sinh, cộng hưởng, cộng đồng
trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc.
Sáu
là, mọi hoạt động của các tổ chức tôn giáo cũng như giáo dân phải trên cơ sở
pháp luật
Thừa
nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, nhưng
không vì thế mà tôn giáo đứng ngoài pháp luật, các tổ chức tôn giáo phải hoạt
động trong khuôn khổ pháp luật, theo quy định tại Điều 11, Sắc lệnh số 234/SL về
vấn đề tôn giáo đã ghi rõ: Khi phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng
đất, những giám mục, linh mục, nhà sư, mục sư, chức sắc có ruộng đất riêng phát
canh thu tô như địa chủ, sẽ không quy định thành phần là địa chủ, nhưng phải thi
hành đúng chính sách ruộng đất của Chính phủ... Hoạt động tôn giáo không được
cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách và pháp luật của
Nhà nước. Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá
hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại
đoàn kết, ngăn trở tín đồ là nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự
do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp
luật.
Chủ tịch Hồ
Chí Minh còn phân định rạch ròi thái độ, cách thức ứng xử theo các mức độ khác
nhau, như đối với chủ nghĩa thực dân và các thế lực tôn giáo phản động cấu kết
với nhau, đó là cuộc đấu tranh chống kẻ địch; đối với đồng bào tôn giáo làm sai
chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước là đấu tranh trong nội bộ nhân dân; đối
với kẻ lừa bịp, lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào chống
lại Tổ quốc, cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối
tăm cực khổ về phần xác cũng như phần hồn, Chính phủ sẽ nghiêm trị; đối với
những giáo hữu đã nhầm di cư vào Nam, Chính phủ đã ra lệnh cho địa phương giữ
gìn cẩn thận ruộng vườn, tài sản của những đồng bào ấy và sẽ giao trả lại cho
những người trở về; đối với chính quyền các cấp phạm sai lầm trong công tác dân
vận, nhất là công tác tôn giáo, thì phải xử lý nghiêm minh.
Khi
giải quyết vấn đề tôn giáo phải trên tinh thần: kiên trì, nhẫn nại, chân tình.
Nếu đã hết sức kiên trì mà không đạt kết quả thì phải kiên quyết, nghiêm khắc xử
lý kẻ nào vi phạm Hiến pháp và khiêu khích bà con Công giáo, đồng thời, phải
tỉnh táo phân biệt rõ bạn, thù để có cách ứng xử phù hợp, phải nắm vững nguyên
tắc xử lý vấn đề công tác tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và
đường lối của Đảng ta; chủ động vạch trần mọi luận điệu xuyên tạc của bọn đế
quốc, tay sai phản động... có như vậy mới giải tỏa hiểu lầm, tăng cường đoàn kết
nhân dân.
Kế
thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, trong những
năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách, pháp luật về công tác tôn giáo như Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày
16/10/1990; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành TW Đảng;
Quốc hội khoá 11 đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (số 21/2004/
PL-UBTVQH 11) quy định về các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Chính phủ ban hành
nghị định số 22/2005/ NĐ-CP ngày 01/3/2005 Hướng dẫn thi hành một số điều của
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 1940/
CT-TTg ngày 31/12/2008 “về nhà, đất liên quan đến tôn giáo” và nhiều văn bản
hướng dẫn của Nhà nước và các bộ, ban, ngành liên quan, tiếp tục khẳng định rõ
“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo
nào”. Các chính sách, pháp luật đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt, sâu sắc của
Đảng, Nhà nước Việt Nam đến nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ, chức sắc các tôn
giáo, làm cho quần chúng nhân dân, tín đồ và các chức sắc tôn giáo yên tâm phấn
khởi tích cực thực hiện tốt cả “việc đạo, việc đời” tin tưởng vào chính sách tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, tích cực tham gia các phong
trào thi đua yêu nước, lao động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh
ngăn chặn những hoạt động lợi dụng tôn giáo góp phần bảo đảm an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội. Đánh giá cao
những đóng góp của cộng đồng các tôn giáo trong lịch sử và vai trò, vị trí của
tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ mới, Đảng ta khẳng
định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân
dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta”[7].
Bên
cạnh những kết quả đã đạt được, thì trong quá trình tổ chức thực hiện nơi này,
nơi kia, còn có hiện tượng nhận thức nóng vội, chủ quan làm cho vấn đề trở nên
phức tạp. Cùng với đó, thời
gian qua vẫn còn xảy ra một số vụ lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối
trật tự công cộng, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng; muốn tách khỏi sự quản lý
của nhà nước trong các lĩnh vực: Xây dựng, sửa nơi thờ tự, hoạt động lễ hội,
quan hệ với các tổ chức, cá nhân, tôn giáo nước ngoài; tranh chấp, khiếu kiện
đòi lại nhà, đất và cơ sở thờ tự... Một số hoạt động và hiện tượng tôn giáo mới
xuất hiện trái pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thành lập hội đoàn,
dòng tu... không xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đòi phục hồi các giáo
hội đã bị Nhà nước giải thể... Một số địa phương, nhất là ở vùng dân tộc thiểu
số, một số đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động
chống đối, kích động tín đồ, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn
định chính trị.
Việt
Nam là quốc gia đa tôn giáo, phân bố ở nhiều vùng
miền trên
phạm vi cả nước với số lượng tín đồ trên 20 triệu người, đây là một lực lượng
quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sẽ góp phần quan trọng trong
việc “đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở
thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa”[8].
Đặc biệt, trong những năm tới, Đảng ta dự báo, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi
mới, thì “nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động
tổng hợp và diễn biến phức tạp,... các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện
âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân
chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta...”[9].
Chính vì thế, việc xây dựng và phát huy sức mạnh của đồng bào giáo dân, theo
chúng tôi, cần tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:
Một
là, tăng cường
giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, giáo dục lòng yêu nước,
truyền thống dân tộc và các giá trị văn hoá tốt đẹp của đất nước; phát huy vai
trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị để thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về
đoàn kết tôn giáo trong giai đoạn hiện nay.
Hai
là, quan tâm
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nhất là phát triển kết cấu hạ tầng, xoá
đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân ở các địa bàn có đông người theo đạo, vùng có đông người dân tộc
thiểu số, vùng núi, biên giới và các xã, thôn, bản, ấp, phum, sóc đặc biệt khó
khăn; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo và không tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp
luật.
Ba
là, tiếp tục
hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm
của Đảng; phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động
viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng
góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn
là, quan tâm và
tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của
tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng
thời, trong công tác tuyên truyền cần chỉ rõ âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo
của các thế lực thù địch nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và công cuộc
đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo để có tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên
quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia
rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và
nhân dân.
Năm
là, đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, vận động các chức sắc tôn giáo, đồng bào theo đạo và các tầng
lớp nhân dân nắm và hiểu đúng, đầy đủ quan điểm, đường lối, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo; cán bộ làm công tác vận
động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo các cấp cần nắm chắc chính sách, pháp
luật về tôn giáo; thực sự gần gũi, nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của
quần chúng tín đồ; tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để tín đồ, chức sắc các
tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, vận động đồng bào giáo dân tích cực tham gia
các phong trào cách mạng ở địa phương; đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại
để nhân dân thế giới và người Việt Nam định cư ở nước ngoài hiểu rõ, hiểu đúng
về chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, tình hình tôn giáo ở trong
nước.
Việc nghiên
cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo nhằm đưa ra
cách ứng xử phù hợp, để quy tụ sức mạnh toàn dân tộc góp phần tạo ra sự ổn định
chính trị-xã hội, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thực hiện vững chắc việc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, là điều cần thiết hơn bao giờ
hết.
[1] Hồ Chí
Minh. Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000,
tr.8.
[2] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.4, tr.480.
[3] Hồ Chí
Minh. Sđd.,
t.9, tr.593.
[4] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.7, tr.115.
[5] Đặng Nghiêm Vạn
(Chủ biên). Những vấn đề lý luận
và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1998, tr.294.
[6] Báo Cứu quốc, ngày
14-01-1946
[7] Đảng Cộng sản Việt
Nam. Văn kiện Hội nghị lần
thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003,
tr.48.
[8] Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011,
tr.149.
[9] Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI.,
sđd, tr.184-185.