TRIẾT LÝ “HIỂU DÂN, TIN DÂN, DỰA VÀO DÂN” TRONG CHIẾN LƯỢC ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
21:50
Đoàn
kết dân tộc, đoàn kết toàn dân để tạo ra sức mạnh là vấn đề cơ bản của cách
mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu,
nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc,
là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Cách mạng muốn thành
công cần phải tiến hành đoàn kết toàn dân thành một khối thống nhất dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng
tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do
cho nhân dân, hạnh phúc cho con người. Thành công của Đảng và Nhà nước là
ở chỗ tổ chức và phát huy được lực lượng vô tận của dân. Điều đó cho
thấy, triết lý trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người chính
là việc “hiểu dân, tin dân, dựa vào dân”. Đây
là nguyên tắc tối cao, xuyên suốt trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn
của Hồ Chí Minh.
Một
là, Dân là gốc rễ, là nền tảng của đại đoàn kết
Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân là bộ phận gồm đông đảo những người
thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội. Tức là, mọi “con dân
nước Việt”, “mỗi một người con rồng cháu Tiên”, không phân biệt “già, trẻ, gái,
trai, giàu, nghèo, quý, tiện” trong đó công-nông chiếm tuyệt đại đa
số. Đó là lực lượng chủ yếu làm ra sản phẩm vật chất và tinh
thần cho xã hội và sức mạnh của nhân dân không phải là sự cộng lại giản đơn của
số đông dân chúng mà đó là sức mạnh tổng hợp do được tổ chức lại, dựa trên một
cơ sở thống nhất về lợi ích, ý chí và hành động. Đánh giá về vai trò của Dân,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “dân là gốc của nước, nước lấy dân làm
gốc”, “Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của
toàn dân”, “dân chúng công nông là gốc cách mệnh” và khi “Dân khí mạnh thì
quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”[1]. Đây là một tư tưởng tổng
quát có triết lý sâu xa, thể hiện một thế giới quan khoa học, một quan niệm nhân
sinh đúng đắn, với ý nghĩa nhân văn cao cả.
“Dân
là gốc của nước” nên phải chăm sóc đến gốc, vì “gốc có vững cây mới bền”, dân có
giàu nước mới mạnh. Nhưng Dân thường không hiểu tình thế trên thế giới,
không biết so sánh, không có mưu chước, chưa nên làm đã làm, khi nên làm
lại không làm… Dân thường thường chia rẽ phái này, bọn kia… nên nỗi
yếu sức đi, như đũa mỗi chiếc một nơi… Vậy nên cách mệnh phải tập
trung, muốn tập trung phải có Đảng cách mệnh. Cách mạng có trong lòng
dân, cách mạng có dân là có lực lượng, có hậu phương. Dựa vào dân,
có dân là có tất cả, trong đó công - nông là nòng cốt, bởi lẽ: “1-
Là vì công nông bị áp bức nặng nề hơn. 2- Là vì công nông là đông
nhất cho nên sức mạnh hơn hết. 3- Là vì công nông là tay không chân rồi,
nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế
giới, cho nên họ gan góc”[2].
Hai
là, Dân là chủ thể của
đại đoàn kết
Dân không
những có lực lượng đông mà còn cần cù, thông minh, khéo léo, có
nhiều kinh nghiệm quý báu, biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn
giản, mau chóng, đầy đủ mà “những người tài giỏi, những đoàn thể to
lớn nghĩ mãi không ra”. Sức mạnh của nhân dân được
thể hiện trong mọi hoàn cảnh, điều kiện, công việc nhưng đặc biệt thể hiện rõ
rệt khi quần chúng tự giác tham gia giải quyết những công việc hết sức khó khăn,
phức tạp. Những nơi cách mạng còn
yếu kém là do không cùng dân bàn bạc. Chỉ nơi nào biết cùng bàn bạc
đến nơi đến chốn, dựa vào dân chúng nơi đó công việc cách mạng mới
tiến triển khá. Đại đoàn kết toàn dân không là tự phát mà là tự
giác. Dân giác ngộ cách mạng, tự nguyện đoàn kết theo Đảng làm cách
mạng để giải phóng mình, giải phóng Tổ quốc. Cách mạng là do dân,
dân tự làm lấy, Đảng chỉ là người lãnh đạo.
Ở trong
xã hội muốn thành công phải có ba điều kiện đó là: Thiên thời, địa lợi và
nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả, nhưng “thiên thời không quan
trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa… Nhân
hòa là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết”[3].
Bởi thực tiễn lịch sử cho thấy, nếu dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm
được, dân chúng không ủng hộ việc gì làm cũng không nên. Dân là chủ
thể của đại đoàn kết, dân phải làm chủ quá trình đó. Dân vừa là
chủ của quá trình đại đoàn kết, đồng thời dân phải có nghĩa vụ,
bổn phận đối với quá trình ấy. Cán bộ, đảng viên phải giải thích
cho dân hiểu, giúp dân thực hiện quyền và nghĩa vụ làm chủ. Người dạy:
“Nhân dân được hưởng những quyền lợi ấy, cho nên mọi người cần phải
hăng hái làm tròn nghĩa vụ của mình trong mọi công việc kháng chiến,
cứu nước, xây dựng nước nhà… Nhân
dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và
những phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân”[4].
Do đó, ai nấy hãy làm tròn nghĩa vụ của người công dân, người chủ
nước nhà.
Dân là
chủ thể của sức mạnh đại đoàn kết, nên trong mọi việc đều phải biết
dựa vào quần chúng… phải động viên, tổ chức, đoàn kết quần chúng.
Lấy sức quần chúng để vượt qua khó khăn, nhưng cũng phải để quần
chúng tự giác giúp nhau, tổ chức nhau lại là chính, dân “phải tự lực
cánh sinh” và phải mạnh dạn tác động đến quần chúng làm cho mọi
người thấm nhuần tinh thần làm chủ tập thể. Quần chúng thật sự có
quyền dân chủ và cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải xung phong gương
mẫu, thì chắc chắn ngăn ngừa được tệ quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí,
tham ô…
Ba
là, Dân là nguồn gốc
sức mạnh vô tận và vô địch khối đại đoàn
kết
Trong
chiến lược đại đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ý chí của dân
là ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực, ý chí đó
mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, nó đánh đổ mọi sức mạnh của sự áp
bức bóc lột. Xác định dân là nguồn gốc, là sức mạnh vô tận và vô
địch của đại đoàn kết là Người đã nhìn thấy lực lượng đông đảo của
dân, trí tuệ của dân, khả năng và kinh nghiệm giải quyết mọi công việc
lớn nhỏ của dân. Người luôn khẳng định: “Dễ mười lần không dân cũng
chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong” và “Phải dựa vào quần
chúng mà phát động mọi phong trào sản xuất, chiến đấu. Phải làm cho quần
chúng luôn luôn phấn khởi, tin tưởng. Làm việc gì cũng phải có quần
chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được”[5].
Trong
chiến lược đại đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “phải làm
sao cho dân yêu mến. Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá.
Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Phải làm cho dân mến, khi sắp tới
dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân
khinh, dân không ủng hộ”[6].
Công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân. Cách mạng
chỉ có thể thành công khi được nhân dân ủng hộ, tham gia. Và “Chủ nghĩa xã
hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động
sáng tạo của hàng chục triệu người”[7]. Dân
có vai trò quan trọng, nhưng dân cũng có những nhược điểm cố hữu, Vì thế, Người
luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên, mọi tổ chức đoàn thể các cấp từ
địa phương đến trung ương phải tất cả vì lợi ích của dân, phải thương
dân, phải quan tâm đến đời sống của dân và thường xuyên liên hệ, bàn
bạc; giáo dục, giác ngộ để giúp dân thực hiện sứ mệnh của họ; mỗi cán bộ,
đảng viên phải thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân
phê bình mình, sẵn sàng học hỏi ở nhân dân, tự mình phải làm gương
mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ, đảng viên từ
địa phương đến trung ương thực hiện được điều đó sẽ đoàn kết được
nhân dân. Sự đoàn kết của nhân dân chính là nguồn gốc sức mạnh vô tận,
vô địch của cách mạng, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, của hệ thống
chính trị cách mạng.
Bốn
là, Dân là chỗ dựa vững
chắc của Đảng, của hệ thống chính trị cách
mạng
Trong
quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra
nguồn gốc sức mạnh vô địch của đại đoàn kết mỗi khi nó được khơi
dậy và là chỗ dựa vững chắc của Đảng, của hệ thống chính trị cách
mạng. Đảng không bao giờ hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông
dân cho một giai cấp nào khác. Không những thế, Đảng còn phải “liên
kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế
giới”; thực hiện liên minh công-nông, trong đó nông dân là một lực lượng quan
trọng. Người khẳng định: “Nông
dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của
giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống
nhất thực sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân. Đồng bào nông dân sẵn có
lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu
tranh và hy sinh”[8]. Khẳng
định vai trò to lớn của giai cấp nông dân để từ đó không ngừng chăm lo cho cuộc
sống của họ, một lực lượng chiếm phần đông dân số Việt Nam.
Nông dân
nói riêng, nhân dân nói chung tự thân họ không có sự đoàn kết bền
vững, chỉ có những mối quan hệ gần gũi tự nhiên, đoàn kết theo thời
vụ, theo sự việc cụ thể. Sự đoàn kết như thế không phải là chỗ dựa
của Đảng, của hệ thống chính trị cách mạng. Chỉ những người dân
được giác ngộ, được tổ chức và do Đảng Cộng sản lãnh đạo mới là
sức mạnh, mới là chỗ dựa của Đảng và của hệ thống chính trị cách
mạng. Người dạy: “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
là rất to lớn, là vô cùng vô tận. Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh
đạo mới chắc chắn thắng lợi”[9].
Muốn vậy, Đảng phải đi sát quần chúng, khéo tổ chức, huấn luyện, giác ngộ là cho
họ hiểu rõ quyền lợi của dân tộc, của giới mình và lãnh đạo quần chúng, chính
sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân, không được
mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của một cá nhân nào;
tất cả các cơ quan Nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt
chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân;
mọi cán bộ, đảng viên phải luôn xác định và thực hiện đúng bổn phận
là công bộc của dân, cần phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục
vụ nhân dân, có như vậy cách mạng mới thành công.
Ở Hồ
Chí Minh, việc xác định dân là chỗ dựa của Đảng, của hệ thống chính
trị cách mạng, với việc để dân thực hiện vai trò đó của mình, cũng
như việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng
viên để dân mến, dân tin, dân đoàn kết theo Đảng là những vấn đề có quan
hệ chặt chẽ với nhau. Muốn khơi dậy được sức mạnh nơi dân thì phải dân vận khéo.
Dân vận khéo không có nghĩa là dùng mánh khóe, thủ đoạn để lôi kéo
dân, mà phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, phải rèn luyện và hành động
vì dân để có dân. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng
đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
và “Đảng cần phải có kế
hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm
không ngừng nâng cao đời sống
của nhân dân”[10].
Triết
lý “Hiểu dân, tin dân, dựa vào dân” trong chiến lược đại đoàn kết của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc nhận thức đúng khả năng, kinh nghiệm, trí
tuệ của dân, đánh giá cao vai trò của dân, coi dân là nguồn gốc, là
sức mạnh vô địch, là gốc rễ của đại đoàn kết. Trong chiến lược đại
đoàn kết và nghệ thuật sử dụng chiến lược đó, Hồ Chí Minh luôn luôn
đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững tinh thần
ý nghĩa của mối quan hệ biện chứng giữa quần chúng nhân dân với vĩ
nhân-lãnh tụ, luôn giữ vững nguyên tắc tất cả vì độc lập dân tộc, vì
hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển toàn diện và hoàn thiện
của con người mà khẳng định: Dân là gốc rễ, dân là nền tảng, dân là
chủ thể, dân là nguồn gốc sức mạnh vô tận vô địch của đại đoàn
kết.
Dân
là chỗ dựa vững chắc của Đảng và của hệ thống chính trị cách
mạng. Do đó, toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh,
và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Nhưng để
tập hợp, tổ chức, thống nhất được sức mạnh của toàn dân thì “phải
làm cho dân mến, dân tin để dân theo mình, mình mới có sức mạnh”; dù ở
bất kỳ địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều là đày tớ của nhân dân, phải
chăm lo cho lợi ích của dân, biết ơn dân và đền bù xứng đáng cho dân.
Vì “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do
mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”[11].
Ngày nay
trong sự nghiệp đổi mới của toàn Đảng, toàn dân ta vì nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, việc tập hợp và phát
huy sức mạnh của toàn dân đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế, khu vực và trong
nước hết sức phức tạp, sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự
chống phá của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
tình trạng tham nhũng, lãng phí đang diễn ra hết sức phức tạp, sự suy thoái về
phẩm chất đạo đức, chính trị của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã tác
động, ảnh hưởng xấu tới uy tín, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng,…
việc nhận thức và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong những năm qua
còn có nhiều hạn chế, chưa huy động hết nhân tài, vật lực trong nhân dân vào
công cuộc xây dựng nước nhà. Điều đó đang đặt ra nhiều vấn đề khác nhau đòi hỏi
Đảng, Nhà nước ta cần nâng tầm nhận thức, đánh giá đúng và sử dụng có hiệu quả
sức mạnh của nhân dân để xây dựng đất nước. Một trong những vấn đề có tính cấp
thiết là chúng ta cần nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo triết lý “hiểu dân,
tin dân, dựa vào dân” trong chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, nội dung này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là kim chỉ nam để con
đường cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến bước.
Bảo
đảm thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện hiện nay, chính là phải
bảo đảm công bằng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng của các giai
cấp, các tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và
lợi ích xã hội. Cùng với việc giải quyết đúng đắn, hợp lý quan hệ lợi ích, phát
huy chủ nghĩa yêu nước, thực hiện dân chủ là những yếu tố quan trọng để củng cố
và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước luôn luôn là
động lực lớn nhất của dân tộc ta trong quá trình lịch sử. Dân chủ vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Nhân dân ta rất coi trọng dân chủ. Muốn
đoàn kết thì phải dân chủ; dân chủ là tăng cường đoàn kết.
Đại
đoàn kết là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị bao gồm Đảng, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai trò hạt nhân lãnh
đạo là tổ chức đảng. Tổ chức đảng nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và là
hạt nhân lãnh đạo của khối đại đoàn kết. Hạt nhân ấy có vững mạnh mới có “sức
hút”, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Kinh nghiệm thực tế vừa
qua chỉ ra rằng, ở những nơi có tình hình bất ổn, mất đoàn kết chính là vì nơi
đó tổ chức đảng yếu kém. Để thực sự là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, Đảng ta phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn; đặc biệt là cần xây dựng những
cơ chế cụ thể để Mặt trận và các đoàn thể động viên nhân dân tham gia xây dựng
Đảng; Đảng phải chăm lo lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc.
[1] Hồ Chí
Minh. Toàn tập, tập 2. Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2000, tr.274.
[2] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.2, tr.266.
[3] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.5, tr.479.
[4] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.7, tr.219.
[5] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.12,
tr.212.
[6] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.4, tr.101.
[7] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.8, tr.495.
[8] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.5, tr.710.
[9] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.9, tr.290.
[10] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.12, tr.498.
[11] Hồ
Chí Minh. Sđd., t.7,
tr.392.