TÌM HIỂU, HỌC TẬP PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
21:52
Trong
toàn bộ di sản vô giá mà Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc và nhân loại, phong cách
của Người nói chung và phong cách học tập nói riêng là một bộ phận hết sức quan
trọng. Nghiên cứu ngày càng sâu về phong cách học tập Hồ Chí Minh, chúng ta càng
thấy rõ hơn tầm vĩ đại của Người với tư cách là nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược
thiên tài, nhà hoạt động thực tiễn lỗi lạc và là tấm gương sáng ngời đã để lại
những bài học quý giá trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng và rèn luyện phong
cách học tập của người cán bộ cách mạng, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ Việt
Nam hôm nay và mai sau.
Không
chỉ là người nêu lên lý luận, tư tưởng về phong cách học tập mà bản thân Người
còn là một tấm gương tiêu biểu về thực hành phong cách học tập đúng đắn. Nghiên
cứu hệ thống di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng, chúng ta có thể
khẳng định: Phong cách học tập Hồ
Chí Minh là một bộ phận cơ bản của phong cách Hồ Chí Minh, là sự thống nhất hữu
cơ giữa những quan điểm, tư tưởng toàn diện, sâu sắc với tấm gương tiêu biểu,
mẫu mực của Người về học tập,
được thể hiện ở động cơ học tập
trong sáng, thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập khoa học, sáng tạo
theo phương châm “lấy tự học làm cốt”.
Phong
cách học tập Hồ Chí Minh là một cống hiến quan trọng, là đóng góp to lớn vào kho
tàng lý luận dạy - học của nước ta; trở thành một triết lý học tập; một giá trị
nhân sinh cao đẹp, tiêu biểu cho trí tuệ, tâm hồn và phong cách Việt Nam - phong
cách đó rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và
chuyển hóa, có thể học tập và làm theo. Phong cách học tập Hồ Chí Minh thấm
nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời được soi sáng bởi thế giới
quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nên rất đa dạng, phong phú,
sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách học tập đó không những tạo cơ sở khoa học mà
còn là tấm gương mẫu mực và thiết thực cho mọi người học tập và tự học tập suốt
đời để vươn lên không ngừng. Phong cách đó không chỉ là lý luận mà còn là cách
thức và phương pháp soi đường và chỉ dẫn cho chúng ta học tập và noi
theo.
Nét
đặc trưng trong phong cách học tập Hồ Chí Minh mang tính độc đáo, đó là phong
cách học tập hàm chứa những yếu tố rất giản dị, đại chúng với động cơ, mục đích
cao cả, trong sáng mà thiết thực; với thái độ cầu thị, khiêm tốn nhưng lại đòi
hỏi rất cao và hết sức nghiêm túc; với phương pháp học tập khoa học mà dễ nhớ,
dễ hiểu, phù hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi... Cụ thể là:
Một
là, động cơ học tập trong sáng vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ
quốc, vì nhân dân, vì sự tiến bộ của nhân loại.
Quan
tâm, chăm lo tới sự nghiệp giáo dục của nước nhà, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi mọi
người thi đua học tập, coi học tập là nhiệm vụ thường xuyên, suốt đời, “còn sống
thì còn phải học”[1].
Và trong việc học tập Người đặc biệt chú trọng đến động cơ, thái độ học tập:
“Muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng”[2].
Tức là, trước hết phải có động cơ học tập
đúng để xác định rõ và đúng xu hướng nghề nghiệp chân chính của
mình là vì mục tiêu, lý tưởng
cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì con người và vì sự tiến bộ của
chính bản thân mình. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập là: “Học để
làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và
nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại ”[3].
Trong
bất kỳ hoàn cảnh nào người học cũng phải nỗ lực, cố gắng và phải xây dựng cho
mình một động cơ học tập đúng đắn; đồng thời không cho phép tồn tại những tư
tưởng cơ hội, vụ lợi, thực dụng, ích kỷ cá nhân, hay những biểu hiện lười học
tập, ngại rèn luyện, hoặc là dùng mọi thủ đoạn nhằm đạt kết quả cao trong học
tập. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo
đức cách mạng, học để tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc
và tương lai của cách mạng, học để hành”[4];
“học để làm việc”; chứ không phải học để “làm ông nọ bà kia”, hay là để “làm
quan cách mạng”… cho nên, “tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải
tẩy trừ cho sạch”[5].
Động cơ chính là động lực
bên trong của mỗi con người, sự thể hiện nó được biểu hiện qua hành vi, thái độ
và việc làm của con người đó. Do vậy, chỉ khi nào xác định được động cơ học tập
đúng đắn thì mỗi chúng ta mới có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn và khoa
học.
Với
tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò của việc học tập đối với
người cán bộ cách mạng. Trong nhiều lần nói chuyện với giới trí thức, Bác thường
nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc học tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp
tục suốt đời”[6].
Trên cơ sở nắm bắt được xu thế của thời đại và khả năng dự báo được tương lai,
Người đã chỉ rõ: “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc
của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự
hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì
chúng ta phải nghiên cứu, học tập”[7] và
“nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được ... không chịu học thì lạc hậu,
mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”[8].
Người thường dẫn câu nói của Lênin “Học, học nữa, học mãi” để nhắc nhở bản thân,
để giáo dục cán bộ, đảng viên và mọi người.
Bản
thân Hồ Chí Minh đã nêu gương mẫu mực về
động cơ học tập trong sáng. Người học tập với một động cơ hết
mực trong sáng và với một ý nguyện thật cao cả; việc học tập đó không chỉ dừng
lại ở sự mở rộng vốn hiểu biết, nâng cao trình độ tri thức và tiến bộ của bản
thân, đó cũng hoàn toàn không phải vì bằng cấp nọ, học vấn kia… mà quan trọng
hơn là để tìm ra con đường cứu
nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh
phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho
nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có
cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[9].
Động cơ và mục đích này luôn luôn trở thành động lực thường xuyên và trực tiếp
thôi thúc Bác một cách mạnh mẽ trong việc học tập, tiếp thu tri thức nhân
loại.
Hai
là, thái độ học tập đúng đắn, khiêm tốn, say mê, cầu thị, chân thành, không kiêu
ngạo, không dấu dốt.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh, trong các bài nói bài viết của mình luôn nhắc nhở chúng ta
rằng: “Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi”[10] và
“người nào tự cho là đã biết đủ rồi, thì người đó dốt nhất”[11],
mỗi người phải biết khiêm tốn, chớ “kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một
của học tập”[12].
Đức tính khiêm tốn yêu cầu, đòi hỏi con người ta không được thỏa mãn với vốn
kiến thức của mình và cũng không được phép bằng lòng với những thành tích đã đạt
được. Chúng ta còn nhớ, khi đánh giá về vai trò của tầng lớp trí thức nước nhà,
với thái độ khách quan, đúng mực. Người đã nói: “Những người trí thức tham gia
cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó
thì cách mạng khó khăn thêm nhiều. Nhưng có nhiều người trí thức vì thế mà kiêu
ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo và lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến
bộ... Vì vậy, những người tri thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình.
Phải khiêm tốn, chớ kiêu ngạo”[13].
Chính bản thân Hồ Chí Minh cũng đã nêu gương mẫu mực về
thái độ khiêm tốn, say mê và cầu thị, không dấu dốt trong học
tập.
Những
mẩu chuyện về thời trẻ của Người cho biết, trong học tập những gì chưa hiểu,
chưa rõ Người đều hỏi thầy giáo một cách rất cặn kẽ. Nếu thầy trả lời chưa rõ,
Người tiếp tục hỏi nữa, hỏi cho đến lúc nào thấu đáo mới thôi. Người bảo: hỏi
thầy giáo về cái mình chưa hiểu hoặc không hiểu như thế là cần thiết. Thế mới
gọi là “học hỏi”. Không chỉ hỏi để hiểu đối với những điều sách vở nói sai với
thực tế, không hợp lôgic, mà Người cũng luôn mạnh dạn đặt ra những vấn đề với
thầy giáo, chứ không tiếp nhận tri thức một cách máy móc, xuôi chiều. Mặt khác,
ở Hồ Chí Minh, mặc dù biết rộng hiểu sâu nhưng khi tiếp xúc, trao đổi với bạn
bè, đồng chí về vấn đề gì, bao giờ Người cũng nói: “Theo tôi nhớ thì thế
này...”, hoặc “Có lẽ ý của chỗ này là thế này...”, đối với mỗi người thì “cái gì
biết, thì nói biết, không biết thì nói không biết”. Và tuyệt nhiên không được
lấy việc xem nhiều sách để mà “lòe” người khác, “để làm ra ta đây, thế không
phải là biết lý luận”[14].
Chính
Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần học tập suốt đời. Cho đến
những năm cuối đời mình, Người vẫn chú trọng, không sao nhãng việc học tập.
Tháng 5-1966, trong một buổi nói chuyện với các đồng chí đảng viên mới ở Hà Nội,
Người đã nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già
nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác
đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng
suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[15].
Ba
là, phương pháp học tập khoa học, sáng tạo và hiệu quả theo phương châm “lấy tự
học làm cốt”.
Việc
xác định đúng động cơ và thái độ trong học tập là nội dung hết sức quan trọng và
cần thiết, nhưng để hiện thực hóa động
cơ, thái độ đó; đòi hỏi tất yếu khách quan là phải xây
dựng được phương pháp học tập khoa học. Vì vậy, trong suốt quá
trình hoạt động cách mạng và thông qua quá trình đó, Người đã hình thành cho
mình một phương pháp học tập
khoa học, đó là con đường tự học, với phương
châm “lấy tự học
làm cốt”[16] và
phải biết “tự động
học tập”. Theo Hồ Chí Minh, tự học được xem như một quy luật của sự tồn tại,
sự tự khẳng định và phát triển cá nhân; là điều kiện tiên quyết để hình thành và
phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện của mỗi người. Người chỉ rõ: tự học,
tự rèn, tự tu dưỡng cũng giống như “mài ngọc luyện vàng”, “ngọc càng mài càng
sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vì, theo Người: “Năng lực của con người
không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện
tập mà có”[17].
Trong
tự học phải xác định đúng nội dung tự học,
“học cái gì”? Theo Hồ Chí Minh, nội dung tự học rất rộng lớn, bao gồm: học tập
lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá, đạo đức… trong đó, Người luôn coi trọng
việc học tập lý luận; bởi lẽ “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào
cách mạng”. Người luôn đặt ra yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận,
phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận,
khinh lý luận và lý luận suông”[18].
Mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất nhân cách và đạo
đức cách mạng.
Muốn tự học thành công phải
có kế hoạch cụ thể, khoa học. Kế hoạch học tập đó không phải là một sự tự do,
tùy ý mà được xây dựng một cách chủ động, trên cơ sở căn cứ vào tình hình công
việc, khả năng, thời gian và điều kiện phù hợp. Trong điều kiện thời gian không
cho phép thì phải nắm cho được những vấn đề cơ bản, “phải thiết thực, chu
đáo hơn tham nhiều”, “quý hồ tinh bất quý
hồ đa”. Đặc biệt, theo Người, phải tự nguyện, tự giác; tích cực, chủ động và
kiên trì, bền bỉ, quyết tâm thực hiện kế hoạch đến cùng, phải xem công việc học
tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do
đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập; nêu cao tinh thần chịu khó,
cố gắng không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học
tập.
Phải
triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để học. Người
vạch ra: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học
nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[19];
“Học tập trong việc làm hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ”[20].
Học tập trong kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Học đến đâu
phải ra sức luyện tập thực hành đến đó, “học mà không hành thì vô ích. Hành mà
không học thì hành không trôi chảy”[21].
Học đi đôi với hành cùng một lúc sẽ hình thành ở người học cả tri thức lẫn kỹ
năng; do đó, “hành” trở thành một hình thức chính của “học”, quá trình “học” xảy
ra trong chính quá trình “hành”. Trong buổi nói chuyện với cán bộ giảng dạy và
sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Ngày 20/10/1964), Người đã khuyên: Học
phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành.
Học với hành phải kết hợp với nhau.
Mặt
khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu gương mẫu mực về
phương pháp học tập - tự học.
Người
sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước ở xứ Nghệ. Lúc còn
nhỏ, tuy không được đào tạo, học hành qua một trường lớp chính quy nào, nhưng
được sự giáo dục của gia đình và bằng con đường tự học mà Người đã thông kinh sử
nước nhà, hiểu biết rất cặn kẽ lịch sử thế giới, nắm chắc Đông, Tây, kim cổ, am
hiểu sâu sắc các học thuyết Nho giáo, Phật giáo cũng như các trường phái triết
học phương Tây; thông thạo nhiều ngoại ngữ; đặc biệt là thấm nhuần chủ nghĩa Mác
- Lênin… trên cơ sở đó Người xác định và lựa chọn con đường cứu nước duy nhất
đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử dân tộc Việt Nam -
con đường cách mạng vô sản.
Tại
Đại hội VII của Quốc tế cộng sản (1935), mọi người đã hết sức kinh ngạc và khâm
phục khi đọc bản khai lý lịch của Người với bí danh là Lin, đó là: khi trả lời
câu hỏi về trình độ học vấn - Người ghi: “Tự học”; tiếp theo mục: Đồng chí biết
ngoại ngữ gì? Trả lời: Anh, Pháp, Ý, Nga, Trung Quốc, Đức… Để có được thành quả
đó không thể nào khác ngoài con đường tự học tập, với một tinh thần cầu thị và ý
chí kiên trì, bền bỉ và sáng tạo. Trong suốt cuộc hành trình bôn ba, gian khổ từ
Châu Á sang Châu Âu, Châu Phi và Mỹ La Tinh là tất cả quỹ thời gian Người dành
cho việc tự học tập, tự rèn luyện bản thân, với ý thức “việc nên không cần ai
nhắc, việc không nên không cần ai ngăn”. Có lẽ, tự học, tự rèn đã trở thành
triết lý sống và hành động của Hồ Chí Minh từ đó.
Cuộc
đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ lúc thanh niên cho đến khi trở
thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thành người chiến sĩ xuất sắc của
phong trào cộng sản quốc tế là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, lấy
tự học làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ về mọi mặt của bản thân. Sự
thành công của Người trong việc tiếp thu chân lý vĩ đại của chủ nghĩa Mác -
Lênin và trong việc sáng tạo sách lược đấu tranh cách mạng ở một nước thuộc địa
nửa phong kiến cũng chính là kết quả của một quá trình tự học kiên trì, gian khổ
trong cuộc đấu tranh cách mạng liên tục, kiên cường. Người đã tổng kết những
kinh nghiệm quý báu về quá trình học tập - tự học suốt cả đời mình và đã để lại
cho chúng ta những bài học vô giá. Tuy nhiên, tự học ở Hồ Chí Minh không phải là
một sự ngẫu hứng, tuỳ ý, vô nguyên tắc… trái lại, việc tự học của Người đã trở
thành một khoa học, một nghệ thuật, với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học;
với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai; tinh thần sáng tạo; tranh thủ mọi
lúc mọi nơi, mọi phương tiện và hình thức để học; học đến đâu ra sức luyện tập,
trau dồi đến đó.
Thực
tiễn sống động trên là minh chứng hùng hồn, rõ ràng nhất về ý thức, thái độ và
cách thức học tập đúng đắn của Người; thể hiện sâu sắc và rõ nét một phong cách
học tập khoa học, mẫu mực. Thế hệ hôm nay có thể tìm thấy trong phong cách học
tập đó tinh thần học tập không mệt mỏi; không tư lợi, học để phụng sự cách mạng,
phụng sự nhân dân; học tập một cách thông minh, sáng tạo; học ở sách vở, học tập
thực tiễn, ở quần chúng… Ngoài ra, phong cách học tập Hồ Chí Minh còn được thể
hiện ở học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế. Phương pháp học tập
của Người là tùy theo điều kiện, thời gian mà thực hiện từng bước và có hiệu
quả; đặc biệt, phải lấy tự học làm chính. Phải hết sức khiêm tốn, không dấu
dốt.
[1] Hồ
Chí Minh, Về vấn đề học tập,
Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 84 –
85.
[2] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nhà xuất bản Chính Trị quốc gia, Hà Nội,
1995, tr.94.
[3] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.5, tr.684.
[4] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.6, tr.50
[5] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.8, tr.497.
[6] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.33.
[7] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd.,
tr.34.
[8] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.68.
[9] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.4, tr.161-162.
[10] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.38.
[11] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.22.
[12] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.58.
[13] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.11-12.
[14] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.11.
[15] Hồ
Chí Minh (1977), Sđd., tr.84-85.
[16] Hồ
Chí Minh (1990), Về vấn đề giáo
dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, tr.67.
[17] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.5, tr.235.
[18] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.5, tr.235.
[19] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.6, tr.52.
[20] Những
lời Bác dạy, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 1975, tr.43.
[21] Hồ
Chí Minh, Sđd., t.6, tr.50.