CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ- NHÂN TỐ QUAN TRỌNG TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
21:54
Hiện
nay, Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực “tiếp
tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng
lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết
đúng mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị,
với nhân dân, với thị trường...”[1], nhằm đáp
ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế. Để thực hiện được chủ trương trên, đòi hỏi chúng ta
phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó thực hiện tốt việc đẩy mạnh
thực hiện dân chủ ở cơ sở có một vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng tạo điều
kiện thuận lợi và động lực to lớn để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cơ
sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách
của Nhà nước. Thực hiện dân chủ ở cơ sở là thực hiện các quá trình dân chủ về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách trực tiếp, rộng rãi và liên tục đối
với mọi người, mọi giới và mọi lứa tuổi. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện thông
qua các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và sự hiểu biết cùng khả năng
thực hiện của mỗi người. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hai hình thức: Dân
chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, trong đó dân chủ trực tiếp có ý nghĩa thiết
thực nhất. Phương châm thực hiện dân chủ ở cơ sở là “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra”. Đây cũng chính là quy trình thực thi dân chủ từ nhận thức đến
hành động, qua kiểm tra đánh giá lại hành động, rồi tiếp tục nhận thức và hành
động với hiệu quả cao hơn. Thực hiện dân chủ ở cơ sở phải dựa trên những quy
định của Hiến pháp, pháp luật cũng như điều lệ của các tổ chức chính trị-xã hội,
bảo đảm đúng đường lối của Đảng, tăng cường khối đoàn kết cộng đồng, phát huy
tính tích cực, sáng tạo của mọi thành viên đóng góp vào sự nghiệp chung. Quá
trình thực hiện dân chủ ở cơ sở, đảng bộ, chi bộ luôn là nhân tố đóng vai trò
chính, lãnh đạo toàn bộ các hoạt động của quá trình đó.
Trong
những năm qua, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đã có những chuyển biến tích cực
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh trật tự
ở cơ sở, với việc xuất hiện ngày càng nhiều điển hình sản
xuất, kinh doanh giỏi, số hộ khá, giàu ngày càng tăng. Các tệ nạn xã hội giảm
dần, nhiều vụ, việc mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân được giải quyết ổn thỏa.
Cùng với đó là đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên. Việc các cấp ủy, chính quyền tổ chức
đối thoại trực tiếp với dân, lấy ý kiến nhân dân tham gia về công tác đảng đã
góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp ủy và chất lượng đảng viên,
từng bước xây dựng tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Năng lực quản
lý, điều hành của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công
chức được nâng lên... Hiện nay,
nhiều vấn đề nhân dân bức xúc đều được chính quyền địa phương tiếp nhận, với gần
95 % đơn, thư thuộc thẩm quyền được giải quyết. Kết quả cuộc khảo sát lấy ý kiến
về việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, có hơn 83% cán bộ cấp xã và gần 70%
nhân dân đánh giá việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở thực sự có hiệu
quả[2].
Tuy nhiên,
cùng với các mặt tích cực đạt được nêu trên, trong quá trình củng cố và mở rộng
dân chủ ở nước ta gặp phải một số khó khăn, trở ngại nhất định sau
đây:
Thứ
nhất,
dân số nước ta tập trung chủ yếu ở nông thôn, cho nên mang nặng tính chất quần
cư làng xã và sự điều chỉnh bằng phong tục tập quán, ngoài những mặt tích cực ra
không phải bao giờ cũng tương hợp với việc xây dựng một nền dân chủ kiểu mới chủ
yếu dựa trên các quy định của pháp luật. Xã hội ta chưa đủ các điều kiện cần
thiết để thực hiện dân chủ trực tiếp một cách rộng rãi vì trình độ dân trí, năng
lực của cán bộ, phương tiện, vật chất, thông tin còn thấp kém.
Thứ
hai, cở sở kinh
tế-xã hội còn nghèo nàn, lạc hậu không đồng đều và cân đối giữa các vùng, ngành.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay sự phân hóa xã hội đã ở một
khoảng cách lớn. Hệ thống các văn bản pháp luật về lĩnh vực dân chủ và xã hội
công dân còn chưa được hoàn chỉnh, đồng bộ, quản lý các cấp chính quyền cơ sở
trên các lĩnh vực còn yếu và bất cập.
Thứ
ba, mặt bằng
dân trí nói chung, dân trí pháp lý nói riêng còn thấp, tình trạng vi phạm quyền
tự do dân chủ của công dân ở các cơ sở còn phổ biến. Điều này gây khó khăn cho
quá trình tiếp thu và thực hiện nội dung, yêu cầu của dân chủ, làm hạn chế quá
trình dân chủ hóa cơ sở. Thực tế cho thấy hiện nay quan niệm “Phép vua thua lệ
làng” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của người dân nông thôn do sự hiểu biết hạn
chế của họ. Vì vậy, chính sách của Đảng và Nhà nước cho dù có hoàn thiện đến đâu
thì đến khi triển khai thực hiện đến người dân cũng vẫn gặp khó khăn, đây cũng
là một trong những hạn chế ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ
sở.
Thứ
tư, cách tổ
chức, triển khai Quy chế dân chủ ở cơ
sở và Pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn còn đơn điệu, chưa thực sự thu
hút được sự quan tâm và hình thành một thái độ, niềm tin cho mọi người trong xã
hội. Cùng với đó là trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều hạn
chế, phong cách lãnh đạo, quản lý chưa được đổi mới, một bộ phận cán bộ chưa
thực sự gần gũi nhân dân, ngại kiểm điểm trước dân, chưa đi sâu, đi sát, chưa
tạo điều kiện cho nhân dân kiểm tra công việc hàng ngày ở cấp
xã.
Chính vì thế,
trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn bộc lộ những hạn chế như tính dân
chủ hóa, công khai hóa trong việc cung cấp những thông tin có liên quan trực
tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân ở cơ sở còn hạn chế. Việc thực hiện chế
độ lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành chủ trương chính sách của chính quyền
còn mang tính hình thức, kém hiệu quả, chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của
chính quyền trong việc thực hiện quy chế dân chủ. Nhiều địa phương và người dân
còn xem nhẹ nghĩa vụ phải thực hiện các nội dung của Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở; chưa có những chế tài cụ thể đối với những hành vi cản trở hoặc không
thực hiện các nội dung của quy chế. Sự phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, các
đoàn thể trong công tác chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết và nhận diện các điển hình
có nơi thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ; thiếu kiên quyết trong việc xây dựng và ban
hành các quy chế, quy định, quy trình thực hiện công khai, dân chủ. Không ít cán
bộ chính quyền ở cơ sở có hiện tượng dễ làm, khó bỏ, thiếu công tâm, chưa thực
sự vì dân, còn thiên lệch, nể nang, bênh vực, bao che cho những việc làm sai của
người cùng cánh...
Những hạn
chế, yếu kém trên đây đang gây nên những lực cản không nhỏ trong việc thực hiện
dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là nhân dân lao
động... Trước thực tế đó, để củng cố và mở rộng dân chủ ở cơ sở trong xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải làm tốt những nội dung
sau:
Một
là, tiếp tục thực hiện mở rộng dân chủ trên lĩnh vực kinh tế
Để
thực hiện dân chủ trên lĩnh vực kinh tế, phải tôn trọng và đảm bảo các lợi ích
chính đáng của người lao động thông qua các chính sách kinh tế và chính sách xã
hội đối với các thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trên
tinh thần bình đẳng, công khai, phải tạo lập các điều kiện kinh tế - xã hội cho
người lao động có cơ hội như nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
kinh tế; phải thể chế hóa về mặt pháp lý những quyền công dân cơ bản trên lĩnh
vực kinh tế. Mở rộng dân chủ trên lĩnh vực kinh tế tạo cơ sở để phát huy dân chủ
trên lĩnh vực chính trị. Tiếp tục khẳng định quyền tự chủ của kinh tế tư nhân,
phát triển ngành nghề và các hình thức kinh tế hợp tác để giải phóng mọi năng
lực sản xuất của các tầng lớp dân cư đặc biệt ở nông thôn. Thông qua CNH, HĐH để
nâng cao trình độ thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực khác và thực hiện dân chủ
trong quản lý kinh tế - xã hội ở cơ sở. Thực tiễn công cuộc đổi mới kinh tế - xã
hội những năm qua đã chứng minh rằng việc thực hiện dân chủ trên lĩnh vực kinh
tế ở cơ sở đặc biệt khi đã được quy định thành quy chế, tức được pháp chế hóa là
giải pháp hữu hiệu giữ vững ổn định chính trị, giải quyết được những bức xúc
trong nhân dân, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, trên cơ sở đó trình độ dân chủ ở
cơ sở cũng được nâng lên.
Hai
là, đối mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ
sở
Hệ
thống chính trị cơ sở vững mạnh, trong sạch sẽ thực thi dân chủ có hiệu quả, và
ngược lại. Do
đó, cần phải tiếp tục xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của các
tổ chức trong hệ thống chính trị và “tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng
hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng trong các đơn vị sự
nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Kiện toàn tổ chức của hệ
thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở. Quan tâm đào
tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên, trước hết là bí thư cấp uỷ. Thực
hiện trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ theo chức
danh cán bộ cơ sở”[3].
Tiếp
tục “đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng
hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ
và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính
sách trong phạm vi được phân cấp”[4].
Xây dựng quy chế làm việc nghiêm túc của các cơ quan chính quyền các cấp, tạo
lập mối quan hệ mật thiết giữa chính quyền và nhân dân, tạo điều kiện để nhân
dân trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cơ sở, công tác kiểm tra, kiểm soát
các hoạt động của bộ máy chính quyền. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính,
nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây
phiền hà cho tổ chức và công dân... Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị,
xã hội ở cơ sở “tiếp
tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình
trạng hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây
dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và
phản biện xã hội...”[5].
Ba
là, từng bước hoàn thiện hình thức dân chủ đại diện và phát triển hình thức dân
chủ trực tiếp ở cơ sở
Hoàn
thiện cơ chế thực hiện dân chủ đại diện nhằm khắc phục dân chủ hình thức trong
các hoạt động của cơ quan dân cử và đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở. Nâng
cao chất lượng hoạt động của các hình thức dân chủ đại diện thực chất là quá
trình hiện thực hóa quyền làm chủ của cộng đồng dân cư ở cơ sở, mở rộng dân chủ
xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi hoạt động quản lý và điều hành của cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương dựa theo nguyên tắc và phương pháp dân chủ, tạo điều
kiện cho việc tiếp tục “thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ
sở và Pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn”[6] góp
phần hoàn thiện hình thức dân chủ trực tiếp ở cơ sở và ngược lại, làm tốt dân
chủ trực tiếp sẽ làm cho dân chủ đại diện được thực
hiện tốt hơn.
Để
mở rộng dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ của nhân dân đòi hỏi: xác định rõ
những vấn đề cần có sự tham gia trực tiếp của nhân dân ở cơ sở tương ứng trước
khi cấp có thẩm quyền quyết định, nâng cao chất lượng đóng góp của dân vào việc
hình thành các quyết định đó. Những vấn đề cơ quan lãnh đạo, người lãnh đạo phải
báo cáo trước dân, phải được xác định rõ, chuẩn bị đầy đủ và báo cáo nghiêm túc;
tránh cắt xén, báo cáo qua loa hình thức. Xây dựng những thiết chế dân chủ ở cơ
sở phù hợp với lĩnh vực và trình độ của đối tượng tương ứng. Có cơ chế kiểm soát
việc thực hiện các thiết chế dân chủ đã được quy định, tránh hiện tượng các
thiết chế dân chủ trực tiếp trở thành khẩu hiệu mị dân, nằm trên giấy, cần xây
dựng chế tài xử lý cụ thể đối với các vi phạm, tránh tình trạng quy định chung
chung, ai vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Bốn
là, tăng
cường cung cấp thông tin, nâng cao dân trí, bảo đảm định hướng đúng cho thực
hiện dân chủ ở cơ sở
Trong
thời đại khoa học - công nghệ phát triển và bùng nổ thông tin, việc cung cấp,
định hướng thông tin cho nhân dân là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng.
Thiếu thông tin chính xác sẽ làm cho nhân dân khó có thể phát huy quyền làm chủ
của mình. Nhân dân có quyền được thông tin về pháp luật, chủ trương, chính sách
của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan tới đời sống, lợi ích hàng ngày của
nhân dân ở cơ sở; hình thành chế độ báo cáo công khai trước dân công việc chính
quyền, cơ quan, đơn vị về sản xuất và phân phối;... Cung cấp thông tin, cùng với
việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là những kiến thức
về pháp luật, để nhân dân có thể hiểu, biết về quyền và nghĩa vụ của mình, có ý
thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật để nhân dân có thể hoàn thành
tốt nhiệm vụ của người làm chủ và có đủ năng lực để tham gia quản lý nhà nước,
quản lý xã hội. Khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin một cách chủ động là yêu cầu
của quá trình thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Những thông
tin cung cấp cho nhân dân cần được chọn lọc, định hướng đúng đắn vừa phù hợp
trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài. Để khai thác và tiếp nhận thông tin
có hiệu quả, Đảng ta chủ trương: “Chú
trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ
chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của
nhân dân và đất nước;... Rà soát, sắp xếp hợp lý mạng lưới báo chí, xuất bản
trong cả nước theo hướng tăng cường hiệu quả hoạt động, đồng thời đổi mới mô
hình, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất - kỹ thuật theo hướng hiện đại. Phát triển
và mở rộng việc sử dụng internet, đồng thời có biện pháp quản lý, hạn chế mặt
tiêu cực, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động lợi dụng internet để truyền bá tư
tưởng phản động, lối sống không lành mạnh”[7].
Năm
là, tăng cường xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ cơ sở
Trước yêu
cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, việc xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ cơ sở
xã, phường, thị trấn đang được đặt ra như một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
công cuộc cải cách hành chính, xây dựng và hoàn thiện bộ máy hành chính nhà
nước. Đảng ta chủ trương trong thời gian tới cần phải “nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước. Có chính sách đãi
ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế
loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy
tín với nhân dân...”[8].
Từ
đó, xác định rõ các chức danh cụ thể trên cơ sở quy mô, đặc điểm, tính chất của
mỗi loại hình cơ sở, trong đó yếu tố quyết định khi xác định số lượng cán bộ,
công chức là quy mô dân số. Cũng như từng vị trí, quy mô, khối lượng tính chất
phức tạp và yêu cầu chất lượng của từng nhiệm vụ ở từng vị trí công việc chuyên
môn của cán bộ, công chức; căn cứ vào đặc điểm của đơn vị hành chính (phường,
thị trấn) ở các đô thị trong việc xác định các chức danh cán bộ chuyên trách,
công chức chuyên môn khác với các đơn vị hành chính xã ở vùng nông thôn. Xây
dựng tiêu chuẩn cụ thể, hợp lý. Tích cực và chủ động tạo nguồn một cách cơ bản,
vững chắc. Đồng thời với việc tiêu chuẩn hóa vấn đề tạo nguồn cán bộ, công chức
cơ sở cũng đang là đòi hỏi cấp bách, cần triển khai một cách tích cực, khẩn
trương. Gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy họach từng loại cán bộ, công chức cơ
sở. Thực
hiện tốt chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã...
Thực hiện dân
chủ ở cơ sở luôn luôn là vấn đề mới và phát triển không ngừng, đầy tính sáng
tạo. Nó đòi hỏi chúng ta một mặt phải đi sâu nghiên cứu nhận thức đúng đắn về lý
luận; mặt khác, thường xuyên đổi mới hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện để
đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở vào cuộc sống một cách vững chắc và những yêu cầu
của thực tiễn sẽ là nguồn bổ sung quan trọng góp phần củng cố và mở rộng dân chủ
ở cơ sở.
[1] Đảng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011,
tr.246-247.
[2] Thủy Hương. Tiếp tục đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở vào đời sống. Báo Điện tử Chính phủ, ngày 13/01/2010.
[3] Đảng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.259-260.
[4] Đảng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.251.
[5] Đảng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.246.
[6] Đảng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.239.
[7] Đảng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.225-226.
[8] Đảng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.252.