VĂN HOÁ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
08:15
Khi nghiên cứu văn hoá, kể cả
với nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, người ta đều muốn nắm bắt lấy cái định hình khái
quát nhất về giá trị trong sự vận động của các đối tượng. Theo đó, văn hoá phải
là cái đọng lại trong mỗi con người, cái kết tinh hằng xuyên trong mỗi dân tộc,
cộng đồng. Văn hoá thể hiện trình độ được vun trồng ngày càng
đầy đủ, ngày càng toàn diện của con người cả về thể lực, trí lực và nhân cách
hướng tới chân, thiện, mỹ, khiến cho mỗi cá nhân và cả cộng
đồng ngày một đổi mới, ngày một tiến bộ và văn minh hơn. Văn hoá là tiêu chí để
mỗi người, mỗi dân tộc cũng như mỗi cộng đồng tự khẳng định mình, đánh giá trình
độ phát triển của chính mình.
Văn
hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế – xã
hội
Phát
triển được hiểu là biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng lên và
tốt đẹp hơn. Trái với phát triển là khái niệm suy thoái. Cho nên nói văn hoá là
động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội là nói đến sự thay đổi về
chất của một nền kinh tế, một xã hội theo xu hướng hoàn thiện và tốt đẹp hơn.
Phải coi mục tiêu phát triển là nâng cao chất lượng cuộc sống con người, là để
đạt được độc lập tự do hạnh phúc, là để con người có đời sống vật chất đầy đủ và
tinh thần tốt đẹp, là để nâng cao trình độ phát triển về trí tuệ, đạo đức, thẩm
mỹ, nâng cao năng lực sáng tạo của con người.
Xét một
cách khái quát nhất, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội là
phải nâng cao chất lượng sống của con người trong sự kết hợp hài
hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và lối
sống đẹp, vừa an toàn vừa bền vững, không chỉ cho một số ít người mà cho tất cả
mọi người, không chỉ cho thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ mai sau đều được
hưởng thụ một nền văn hoá phát triển trong một môi trường xã hội lành mạnh, văn
minh. Đó là mục tiêu phát triển nhìn từ góc độ văn hoá, đồng
thời đó cũng chính là văn hoá. Trên ý nghĩa ấy, văn hoá là mục tiêu của sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội đã, đang và ngày càng chủ yếu là tiềm năng sáng tạo to lớn của nguồn
lực con người - đó là tiềm lực văn hoá. Là biểu hiện của phương
thức tồn tại người và là tổng thể
các giá trị người, môi trường văn hoá cơ sở góp phần tích
cực nâng cao hàm lượng văn hoá trong tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, làm
cho khả năng phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương, cơ sở trở thành hiện
thực và đúng hướng. Nâng cao chất lượng người, cũng có nghĩa nâng cao tính văn
hoá trong hoạt động của con người, là chức năng cố hữu của môi trường văn hoá.
Bởi lẽ, bản chất của văn hoá nằm ở thái độ và cách thức hoạt động của con người.
Mọi hoạt động cải biến xã hội của con người và cộng đồng đều phải bắt đầu từ văn
hoá, bằng văn hoá, dựa vào văn hoá và thông qua môi trường văn
hoá.
Sức mạnh của văn hoá là sức mạnh
giải phóng tiềm năng sáng tạo của con người và cộng đồng. Sống trong một môi
trường văn hoá lành mạnh, con người và cộng đồng không những được giải phóng mọi
năng lực vật chất, mà còn được giải phóng mọi năng lực tinh thần - đó là sức
mạnh thức tỉnh lương tâm và tính thiện. Với ưu thế ấy, văn hoá tác động và thẩm
thấu một cách sâu sắc, tinh tế vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của đời sống cộng
đồng, tạo nên những hệ thống động lực sâu xa, căn bản để thúc đẩy xã hội phát
triển và phát triển bền vững. Văn hoá còn là hệ tiêu chí cơ bản có khả năng kích
thích, thúc đẩy tiến trình tự vận động theo xu hướng đi lên của đời sống cộng
đồng, từ xã hội mang tính bầy đàn nguyên thuỷ đến xã hội văn minh, hiện
đại.
Trên thực tế, tuyệt đại đa số
các nhà hoạt động xã hội - chính trị và những người làm công tác nghiên cứu, từ Đông sang Tây,
từ cổ chí kim (đặc biệt những năm cuối thế kỷ XX), trên thế giới cũng như ở Việt
Nam, những người mác-xít và thậm chí những người có lập trường ngoài mác-xít,
đều thừa nhận vai trò đặc biệt của văn hoá. Văn hoá thể hiện vai trò động lực
của mình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hết sức phong phú, đa dạng,
Đảng ta nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn
với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội”[1].
Như vậy, có thể thấy:
Thứ
nhất, tất cả những gì
được coi là động lực xã hội đều ít nhiều vận động theo lôgíc của văn hoá. Mặt
khác, văn hoá luôn thể hiện vai trò định hướng nhân văn cho sự tác động của các
yếu tố khác của đời sống xã hội đến quá trình phát triển của con người và cộng
đồng.
Thứ
hai, các giá trị văn
hoá vật chất và giá trị văn hoá tinh thần đều thể hiện tầm quan trọng và ý nghĩa
to lớn đối với đời sống cộng đồng trên các lĩnh vực: văn hoá lao động sản xuất,
văn hoá tổ chức đời sống vật chất và tinh thần, văn hoá chính trị, văn hoá khoa
học, văn hoá giáo dục, văn hoá đạo đức, văn hoá pháp luật, văn hoá thẩm
mỹ.
Thứ
ba, văn hoá với nghĩa
hẹp - văn hoá nghệ thuật - theo quan niệm trước đây thường bị coi là lĩnh vực
không sinh lợi, ít có vai trò đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng trên
thực tế, nếu được định hướng đúng đắn trong một môi trường văn hoá lành mạnh và
năng động, nó sẽ không chỉ là nguồn sinh lợi trực tiếp, động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, cổ vũ các hoạt động thương mại, khuyến khích du lịch, thu
hút sáng kiến làm ăn mới…, mà còn là nguồn sinh lợi lâu bền thông qua việc bồi
đắp con người.
Hiện nay, động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội đã và ngày càng chủ yếu là tiềm năng sáng tạo của nguồn
lực con người - đó là tiềm lực văn hoá. Văn hoá là biểu hiện cái phương thức của
sự tồn tại người, là tổng thể
mọi giá trị người. Hàm lượng văn hoá trong các lĩnh vực hoạt
động của con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội
càng trở thành hiện thực và đúng hướng bấy nhiêu. Nâng cao chất lượng người,
cũng có nghĩa là nâng cao tính văn hoá trong hoạt động của con người, là "mệnh
lệnh" của thời đại, là yếu tố đầu tiên và cuối cùng quyết định thắng lợi các mục
tiêu kinh tế - xã hội, quyết định tiến bộ xã hội.
Vai trò mục
tiêu và vai trò động lực của
văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ biện chứng với
nhau trong một chỉnh thể thống nhất không tách rời. Việc coi văn hoá là mục tiêu
của sự phát triển kinh tế - xã hội tạo tiền đề và là điều kiện để văn hoá phát
huy khả năng thúc đẩy, kích thích sự phát triển nhằm đạt mục tiêu ấy. Nếu mục
tiêu phát triển không tính đến văn hoá, tách rời mục tiêu văn hoá thì sẽ đưa xã
hội đến một sự "phát triển xấu", đưa loài người đến thảm hoạ. Và như vậy, sẽ
triệt tiêu nguồn động lực căn bản của sự phát triển. Còn với vai trò là động
lực, văn hoá thấm sâu vào tất cả các thành tố của sự phát triển, trở thành sức
mạnh thực hiện mục tiêu theo hướng nhân văn. Theo đó, văn hoá trở thành cái đích
cuối cùng và là thước đo giá trị của mọi sự phát triển kinh tế - xã
hội.
Trong
suốt chiều dài lịch sử, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến văn hoá. Ngay từ
năm 1943, khi chưa có chính quyền, dưới ánh sáng của Chánh cương
sách lược vắn tắt vàLuận cương cách mạng tư sản dân quyền
(1930), Đảng ta đã xây dựng Đề cương văn hoá
Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói về quan hệ không thể tách
rời giữa kinh tế với văn hoá. Nghị quyết các Đại hội Đảng đều đề cập đến các
quan điểm cơ bản của Đảng về văn hoá. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và V xác
định cách mạng tư tưởng - văn hoá là một trong ba cuộc cách mạng của cách mạng
xã hội chủ nghĩa nước ta. Trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc, văn
hoá dân tộc ta đã tạo ra động lực to lớn, khiến cho rất nhiều người có lương tri
trên thế giới phải nói tới sức mạnh văn hoá Việt
Nam như là bí quyết mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Đặc
biệt, Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã xác
định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực
của sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng một đất nước không chỉ là vấn đề
kinh tế mà còn là vấn đề văn hoá.
Văn hoá
góp phần đưa tiêu chí chân, thiện, mỹ vào mọi lĩnh vực xã
hội
Toàn bộ
lịch sử phát triển đời sống xã hội của con người nói chung và từng quốc gia dân
tộc nói riêng thực chất chính là lịch sử phát triển từ con người - động vật đến
con người - văn hoá và ngày một văn hoá hơn. Đó là con đường tự nhiên và tất yếu
mà con người và cộng đồng dù muốn hay không, dù nhận thức được hay chưa nhận
thức được, cũng đều phải trải qua để xã hội phát triển bình thường. Điều làm cho
tính cộng đồng của con người khác hẳn với tính bầy đàn của động vật ở chỗ: quá
trình tập hợp thành bầy đàn của động vật chỉ nhằm duy trì sự tồn tại sinh học
trước ngoại cảnh, còn quá trình tập hợp thành cộng đồng xã hội của con người chủ
yếu nhằm làm biến đổi thế giới bằng hoạt động thực tiễn. Đó chính là văn hoá và
chỉ được hiện thực hoá khi con người làm cho môi trường sống của mình trở thành
môi trường văn hoá.
Sự hình
thành, tồn tại và phát triển của các hình thức cộng đồng người trong lịch sử bao
giờ cũng gắn liền với việc xác lập và thực hiện hệ thống các
thang bậc giá trị văn hoá nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi
của con người trong cộng đồng. Thang bậc giá trị văn hoá là sự chế định hoá các
chuẩn chân, thiện, mỹ trong sự thống nhất hữu cơ của chúng, tạo nên ở mỗi cá
nhân hay cộng đồng một định hướng chung thống nhất trong lựa chọn và thực hiện
giá trị. Tuy nhiên, quá trình xác lập và thực hiện hệ thống này không hề diễn ra
theo thể thức ban bố một cách áp đặt, mà hoàn toàn dưới tác
động của môi trường văn hoá, tức là theo phương thức văn hoá
hoá. Đời sống chung của xã hội luôn đòi hỏi việc đáp ứng các nhu cầu đa dạng
và theo nhiều phương thức khác nhau của từng cá nhân phải có sự lựa chọn tối ưu;
mặt khác, việc từng thành viên đánh giá nhân cách văn hoá người khác nhằm định
đoạt lợi ích chung cho cộng đồng cũng phải dựa trên một hệ chuẩn mang tính phổ
quát.
Với việc thực hiện các thang bậc
giá trị, văn hoá đóng vai trò định hướng chủ yếu đối với nhu cầu đa dạng của mỗi
cá nhân, thông qua việc xác định hệ quy chiếu cụ thể trong điều kiện cụ thể, đưa
ra hình mẫu nhân cách văn hoá tiêu biểu và nhân điển hình trong cộng đồng văn
hoá. Với việc xác lập hệ thống các thang bậc giá trị, văn hoá còn tạo điều kiện
tổng thể để con người và cộng đồng sáng tạo văn hoá. Sở dĩ như vậy bởi vì, một
trong những đặc trưng cơ bản của quá trình sáng tạo văn hoá là tính cá nhân, cá
biệt trong động thái sáng tạo gắn với tính phổ quát của giá trị - kết quả trực
tiếp của quá trình sáng tạo ấy. Văn hoá tìm kiếm những "mẫu số chung" của các
quan niệm giá trị vốn mang dấu ấn cá nhân để xác lập các thang bậc giá trị văn
hoá mang tính chung của cả cộng đồng. Văn hoá còn tạo ra những tiền đề và điều
kiện thuận lợi để con người và cộng đồng không ngừng bổ sung, hoàn thiện những
giá trị văn hoá phù hợp với xu thế chung của tiến bộ xã hội, củng cố các giá trị
văn hoá đích thực, đấu tranh loại bỏ phản giá trị.
Bởi chứa đựng một hệ thống các
thang bậc giá trị chung mà văn hoá xác lập và thực hiện được hệ
thống các tiêu chí quan hệ trong cộng đồng, kể cả các quan hệ thuần văn hoá
cũng như các quan hệ không trực tiếp nhằm mục đích văn hoá và hướng tới lợi ích
thuần văn hoá. Từ đó, văn hoá tích cực thúc đẩy sự phát triển trình độ nhân
tính, trình độ sáng tạo và nhân văn theo tiêu chí chân, thiện, mỹ đối với tất cả
các bên tham gia mối quan hệ. Tính chất và trình độ cao hay thấp, sâu sắc hay ít
sâu sắc, tiến bộ hay lạc hậu, sơ giản hay hoàn thiện của các quan hệ người trong
đời sống hiện thực phụ thuộc vào tính chất và trình độ của nền văn hoá. Việc xây
dựng, phát triển, hoàn thiện các quan hệ người bao giờ cũng chỉ được thực hiện
trong môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh.
Mỗi kiểu quan hệ người trong
lịch sử vừa làm nền tảng hình thành, vừa phản ánh và chịu sự quy định của một
nền văn hoá nhất định. Quan hệ người trong xã hội có giai cấp thể hiện tập trung
ở quan hệ giai cấp thì môi trường văn hoá cũng mang tính giai cấp sâu sắc, phản
ánh cuộc đấu tranh giai cấp, ý thức hệ giai cấp và lợi ích văn hoá của mỗi giai
cấp. Nhưng chính môi trường văn hoá mang tính giai cấp ấy lại thúc đẩy sự hoàn
thiện hoặc chế ước các quan hệ giữa những con người cụ thể. Mặt khác, văn hoá
còn làm cho các quan hệ người phản ánh, hội kết được những nhân tố vốn có trong
bản sắc và truyền thống dân tộc. Tâm hồn, cốt cách dân tộc bao giờ cũng toả dấu
ấn sâu sắc trong nền văn hoá đương đại, và do đó, trong các quan hệ người phong
phú, đa dạng.
Cùng với xác lập và thực hiện hệ
thống các thang bậc giá trị và quan hệ người, văn hoá còn xác
lập và thực hiện hệ thống các chuẩn mực hoạt động trên mọi lĩnh
vực, từ sản xuất vật chất, đấu tranh xã hội, giao tiếp, ứng xử…
đến các hoạt động thuần văn hoá. Các quan hệ người chỉ có ý nghĩa văn hoá và
biểu hiện giá trị chân, thiện, mỹ thông qua hoạt động đa dạng của cộng đồng
người. Sự phát triển những giá trị người trong lịch sử - tức văn hoá - bao giờ
cũng thông qua hoạt động sống của con người. Nhìn phiến diện thì chỉ thấy dường
như mỗi cá nhân có một cách thức hoạt động riêng biệt, nhưng dưới góc nhìn tổng
thể, toàn diện thì những cái riêng ấy lại chứa đựng những chuẩn mực chung phản
ánh một sắc thái văn hoá nhất định. Cái chung này thể hiện trình độ sáng tạo và
nhân văn, trình độ chân, thiện, mỹ của hoạt động, đồng thời cũng biểu hiện cách
thức phù hợp nhất mà cá nhân có thể lựa chọn để tiến hành một hoạt động trong
đời sống cộng đồng. Lịch sử đã chứng minh rằng, tất cả các hoạt động mang tính
sáng tạo và nhân văn của con người đều chứa đựng giá trị văn hoá và đều tác động
trở lại nuôi dưỡng cộng đồng về mặt văn hoá.
Trên thực tế, văn hoá luôn thâm nhập mọi lĩnh
vực hoạt động, tạo nên những phạm trù kép rất phổ biến: văn hoá chính trị, văn
hoá kinh doanh, văn hoá ẩm thực, văn hoá quân sự... Trong tất cả
các hoạt động mang văn hoá của con người thì
độ đậm đặc văn hoá thường được chứa đựng trong
các hoạt động thuần văn hoá như tham quan, lễ
hội, biểu diễn nghệ thuật... Vì vậy, để xây dựng đời sống cộng đồng
tốt đẹp, ngày càng hoàn thiện và năng động, cần làm tăng chất văn hoá của tất cả
các hình thức hoạt động của con người. Nếu thoát ly môi trường văn hoá, để bị
tiêm nhiễm bởi phản giá trị thì các hoạt động thuần văn hoá lại trở nên cực kỳ
phản văn hoá.
Văn hoá
trực tiếp tác động đến tư tưởng - đạo đức - lối sống của cộng
đồng. Tư tưởng - văn hoá biểu hiện
chiều sâu bản chất và phản ánh một trong những hình thái giá trị người mang tính
sáng tạo nhất - năng lực khái quát bằng tư tưởng, lý luận. Cộng đồng người cùng
với các quan hệ và hoạt động của họ trong một nền văn hoá luôn hướng tới mục
đích nhất định và đạt hiệu quả cao nhất khi được soi sáng bởi tư tưởng khoa học.
Có tư tưởng sâu sắc mới có thể nhìn nhận, lựa chọn đúng đắn những giá trị sáng
tạo và nhân văn trong toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của xã hội cũng như
bản thân, nhằm bồi bổ cái chân, thiện, mỹ cho chính mình. Thiếu trí tuệ dẫn
đường, con người sẽ trở nên thiếu sức sống để phát triển một cách năng động,
sáng tạo.
Hệ tư
tưởng chính trị, hệ thống tri thức khoa học và hệ thống quan điểm lý luận đạo
đức, lối sống được coi là nền tảng quan trọng nhất, không những đối với sự phát
triển ý thức xã hội nói chung mà còn là tiêu chí cơ bản để đánh giá trình độ văn
hoá của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng. Trong xã hội có sự phân chia giai
cấp và đối kháng giai cấp, các phạm trù đạo đức như trách nhiệm, nghĩa vụ, vinh
dự, lương tâm... cũng phản ánh hệ tư tưởng chính trị, nhưng dưới tác động của
văn hoá, bản chất hướng thiện, nhân văn vẫn có sức chinh phục con người. Với ý
nghĩa đó, văn hoá đóng vai trò định hướng hệ tư tưởng chính trị, hệ thống tri
thức khoa học và hệ thống quan điểm lý luận đạo đức, lối sống. Một nền văn hoá
lành mạnh, trong sáng là điều kiện thuận lợi để hình thành và củng cố, phát
triển nền tảng hệ tư tưởng chính trị, hệ thống tri thức khoa học và hệ thống
quan điểm lý luận đạo đức, lối sống tiên tiến.
Trên nền
tảng hệ tư tưởng chính trị, hệ thống tri thức khoa học và hệ thống quan điểm lý
luận đạo đức, lối sống, văn hoá góp phần hình thành bầu không khí tâm lý lành
mạnh trong cộng đồng dân cư, tập thể... Sự tác động thường xuyên, trực tiếp của
các sự kiện, hiện tượng, quá trình, vòng cộng đồng văn hoá đến con người bao giờ
cũng thông qua tâm lý xã hội, tâm lý nhóm và tâm lý cá nhân. Đời sống tâm lý con
người và cộng đồng bao gồm toàn bộ tình cảm, tâm trạng, thái độ, thói quen, dư
luận... vừa biểu hiện hình thái tồn tại ở cấp độ tâm lý xã hội của văn hoá, vừa
phản ánh tổng thể những tác động văn hoá của các hình thái ý thức xã hội đến đời
sống cộng đồng.
Như vậy, nhận thức vai trò văn
hoá trong phát triển cần phải coi văn hoá như một thành tố sống động được kết
tinh từ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời thẩm thấu vào từng tế bào xã
hội. Có như vậy mới tìm ra được cách thức phù hợp để khai thác, phát huy và điều
tiết các phương tiện, nguồn lực và động lực vì sự phát triển lâu bền của đất
nước. Cần xuất phát từ các giá trị đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ để đưa vào kinh tế
những mục đích cao thượng. Cần giải phóng con người thoát khỏi tình trạng nghèo
hèn, dốt nát; phát triển các giá trị nhân văn trong mối quan hệ giữa người với
người, với xã hội và với tự nhiên; làm cho văn hoá trở thành nguồn lực căn bản,
là hệ điều tiết và là mục đích của sự phát triển con người, phát triển kinh tế -
xã hội.
[1] Đảng
Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X¸ Nxb CTQG Hà Nội, 2006,
tr.106.