CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
19:14Tinh thần yêu nước là một giá trị văn hóa - tinh thần cao đẹp của dân tộc Việt Nam, là một thành tố rất quan trọng, có vai trò quyết định trong sức mạnh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Tinh thần yêu nước ấy là biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Chủ nghĩa yêu nước là sự phát triển ở trình độ cao của tinh thần yêu nước, là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý trí và tình cảm, là tinh thần yêu nước đã đạt tới tình độ tự giác và độ bền vững cao.
"Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
truyền thống" là một quan niệm được dùng để phân biệt và so sánh với một giai
đoạn phát triển mới của nó là "Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí
Minh" - Yêu nước XHCN. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống là nội dung cốt
lõi của tư tưởng Việt Nam, của nhân sinh quan và thế giới quan Việt Nam; là lý
luận và đường lối chính trị, quân sự của Nhà nước phong kiến dân tộc Việt Nam.
Giáo sư Trần Văn Giàu viết: "Chủ nghĩa yêu nước truyền thống
Việt Nam hẳn không phải là một truyền thuyết thâm
viễn, ctĩng không phải là một tín ngưỡng huyền diệu; nó là
một hệ thống tư tưởng nhận thức và ứng xử đơn giản nhưng vừa đủ để cho dân tộc
Việt Nam tồn tại và tồn tại trong danh dự". Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
truyền thống được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau đây:
* Tình yêu quê hương, đất nước,
con người
Trong ý niệm về Tổ quốc của con
người Việt Nam bao giờ cũng có ý niệm về quê hương cụ thể nơi họ sinh ra va flớn
lên với bao hình ảnh thân thương: cây đa, giếng nước, sân đình, con người cụ thể
trên mảnh đất đó. Tổ quốc chung, rộng lớn bao giờ cũng gắn với một cái làng
riêng biệt. Trong thực tế đã hình thành lên mối quan hệ Nhà - Làng - Nước trong
sự hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam, trong tổ chức nhà nước, trong tư
tưởng, tình cảm con người Việt Nam. Điều đó làm cho chủ nghĩa yêu nước truyền
thống Việt Nam có độ sâu sắc, mạnh mẽ và độc đáo.
Yêu nước của người dân Việt Nam là
một tình yêu cụ thể, không trừu tượng, từ yêu những cảnh quan thiên nhiên nơi
mảnh đất họ sinh ra, đến tình yêu Tổ quốc bao la.
Tư tưởng yêu nước gắn với thương
nòi, đã sản sinh ra những hành động yêu nước rất cụ thể, hành động của chủ nghĩa
anh hùng trong sản xuất, chiến đấu hình thành nên những tình cảm yêu thương, đùm
bọc lẫn nhau của những người con Lạc, cháu Hồng.
* Tình cảm gắn bó, cố kết cộng
đồng, hướng về dân, lấy dân làm gốc.
Thực tiễn sản xuất để mưu sinh,
chiến đấu bảo vệ, giữ vững độc lập dân tộc, đòi hỏi một cách khách quan các tầng
lớp dân cư phải có sự đoàn kết, cố kết với nhau tạo thành sức mạnh cộng đồng
vững mạnh, sức mạnh của tất cả quần chúng nhân dân, sức mạnh ấy được ví như
"nước". Nói như Nguyễn Trãi : chở thuyền cùng là dân, lật thuyền cũng là dân.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua các triều đại khác nhau, nhưng có cùng
mục đích: "Việc nhân nghĩa, cốt ở yên
dân", tạo nên sự bình yên của mỗi làng quê và trên toàn bộ mọi
vùng của Tổ quốc. Ở Việt Nam ngoài ba mối quan hệ Vua - Tôi, Cha - Con, Chồng -
Vợ còn có mối quan hệ thứ tư là quan hệ giữa Nước và Dân, "Nước lấy dân làm
gốc".
* Ý thức bảo vệ
bản sắc văn hoá dân tộc.
Nền văn hoá, văn minh Việt Nam là
kết quả của quá trình lao động chinh phục thiên nhiên, xây dựng cuộc sống, của
các cuộc đấu tranh chống xâm lược, chống sự đổng hoá của các thế lực bên ngoài
đối với dân tộc Việt Nam.
Ý niệm về lịch sử và văn hoá chung
giữ vai trò rất quan trọng trong nhận thức và tình cảm yêu nước (huyền thoại,
truyền thuyết, truyện lịch sử, lễ hội dân gian).
Quan niệm bảo vệ văn hoá dân tộc
chủ yếu là bảo vệ bản lĩnh, bản sắc dân tộc gắn với độc lập, chủ quyền quốc gia,
không mang tính bảo thủ, hẹp hòi. Theo đó, chủ nghĩa yêu nước đòi hỏi mỗi cư
dân, cả cộng đồng phải có trách nhiệm bảo vệ những bản sắc văn hoá của dân tộc
mình, gắn với bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia. Bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc
nhưng cũng biết tiếp thu có chọn lọc, hợp lý tinh hoa văn hoá thế giới. Bảo vệ
nhưng không đóng cửa, bảo vệ gắn liền với sự phát triển. Ở mỗi bước phát triển
của lịch sử dân tộc có bước phát triển của một nền văn hoá cao hơn. Đó là tính
quy luật của sự phát triển văn hoá Việt Nam.
* Ý thức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia
Lịch sử dựng nước và giữ nước của
dân tộc, chúng ta đã có ba bản Tuyên ngôn độc lập. Bản Tuyên ngôn lần thứ nhất
vào mùa xuân 1077 sau khi chiến thắng quân Tống xâm lược, Lý Thường Kiệt viết
bài thơ bất hủ:
"Nam quốc sơn hà Nam đế
cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên
thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm
phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại
hư"
Năm 1428 sau khi cuộc chiến tranh
giải phóng khỏi ách đô hộ của nhà Minh - Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc đã
viết "Bình ngô đại cáo", bản Tuyên ngôn độc lập
lần thứ II.
Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ II
do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 02 tháng 9 năm 1945 khai sinh Nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà.
Tất cả các bản Tuyên ngôn đều
khẳng định quyền dân tộc tự quyết của Việt Nam; ý chí quyết tâm giữ vững độc lập
dân tộc, giữ vững bản sắc văn hoá Việt Nam; nghị lực, quyết tâm của dân tộc
trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ và giàu mạnh.Từ tình
yêu quê hương, xứ sở nâng lên thành ý thức bảo vệ non sông đất nước, giang sơn,
tổ quốc, sơn hà xã tắc (ý niệm sâu sắc về lãnh thổ quốc gia) là bước trưởng
thành của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống.
Thế kỷ XV Lê Thánh Tông đã khẳng
định: "Một thước núi, một tấc sông của ta không thể vất bỏ... Ai
dám đem một thước núi, một tấc sông của Vua Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc thì
tội phải tru di".
Ngay trong thời kỳ phân liệt Đàng
Trong - Đàng Ngoài, nhân dân 2 miền cũng không ai coi mỗi miền là quốc gia
riêng.
* Ý thức sâu sắc về độc lập dân
tộc và lòng tự tôn dân tộc
Biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa
yêu nước là ý thức coi độc lập dân tộc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm - tinh
thần tự tôn dân tộc.
Mỗi lần Tổ quốc bị xâm lăng thì
mọi tầng lớp nhân dân luôn đặt lợi ích đất nước lên trên hết và sẵn sàng gạt bỏ
mọi lợi ích riêng, chấp nhận mọi gian nan, thử thách, hy sinh vì độc lập dân
tộc.
Tuy nước nhỏ, có lúc bị mất nước
hàng trăm, hàng nghìn năm, những vẫn giữ vững niềm tự tin, tự tôn dân tộc. Chính
trên tinh thần đó về sau Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái
quát: "Không có gì quý hơn độc
lập , tự do".
Ý thức tự tôn, tự lập của dân tộc
được hình thành rất sớm và các triều đại nối tiếp nhau đều có ý thức bảo vệ lòng
tự tôn, tự lập của dân tộc, xây dựng nên bản sắc, cốt cách riêng của dân tộc
Việt Nam. Dân tộc Việt Nam luôn luôn hoà nhập với thế giới, nhưng không bao giờ
chúng ta bị hoà tan, mất đi cái bản sắc riêng có của mình.
* Ý thức xây dựng
đất nước.
Việt Nam là một nước có tiềm năng
lớn về tài nguyên, nhưng nền kinh tế kém phát triển. Vì vậy, trong tâm thức của
mỗi người Việt Nam qua các thế hệ đều coi việc xây dựng đất nước phồn vinh sánh
vai cùng các cường quốc là một biểu hiện rất cụ thể của lòng yêu nước. Chính
trong quá trình cùng nhau chung lưng, đấu cật lao động xây dựng đất nước, chống
chọi với thiên nhiên mà tình yêu thương con người, yêu quê hương, đất nước nảy
nở và không ngừng được củng cố, phát triển. Nhân dân ta rất quý trọng những nhân
tài của đất nước, những người có công lao trong lao động, sản xuất làm cho đất
nước ngày càng thêm giàu đẹp. Đó là một giá trị văn hoá cao đẹp thể hiện chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền
thống được hình thành trên cơ sở những điều kiện khách quan và chủ
quan.
* Điều kiện khách
quan.
Vị trí địa lý và điều kiện tự
nhiên của Việt Nam đã gắn bó con người
với thiên nhiên, quê hương đất nước.
Nước ta nằm trên bán đảo Đông
Dương, trong vùng nhiệt đới gió mùa; do điều kiện kiến tạo của trái đất, nên đất
nước ta nằm trong vùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý, hiếm. Vị trí địa lý,
điều kiện tự nhiên đó đã tạo nên những tiềm năng to lớn của sự phát triển kinh
tế, nhưng cũng tạo ra những khó
khăn thử thách lớn đối với dân tộc
ta.
Trong quá trình lao động sản xuất,
xây dựng đất nước... chúng ta vừa tìm cách thích nghi với điều kiện tự nhiên,
vừa tìm cách khai thác điều kiện tự nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển
của mình. Trong quá trình săn bắn, trồng trọt, chăn nuôi, những cư dân Việt Nam
đã có cuộc sống ổn định, với một nền sản xuất vật chất, những giá trị tinh thần
mang bản sắc riêng và đạt đến trình độ cao của nền văn minh lúa
nước.
Qua thực tiễn đấu tranh chống lại
thiên nhiên hà khắc, những cư dân Việt Nam dần dần liên kết lại với nhau, cùng
nhau làm thuỷ lợi, đắp đê sông, đê biển để chống đỡ lụt lội, hạn hán. Kinh tế
phát triển, sự giao lưu giữa các vùng trong nước từng bước được mở mang. Đó là
quá trình từng bước tạo nên sự gắn bó giữa các cư dân, cộng đồng với nhau; là cơ
sở hình thành tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó, đùm bọc lẫn
nhau.
Sự phát triển biến đổi của các
hình thái kinh tế - xã hội trong
lịch sử Việt Nam ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần, ý thức
dân tộc và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Lý luận về hình thái kinh tế - xã
hội của C.Mác đem lại cho người ta sự lý giải đúng đắn về sự biến đổi, phát
triển của xã hội loài người. Sự phát triển xã hội loài người gắn liền với sự
biến đổi của hình thái kinh tế - xã hội.
Việt Nam không giống như nhiều
nước trên thế giới, không trải qua tuần tự 5 hình thái kinh tế - xã hội một cách
tự nhiên. Việt Nam không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ, từ chế độ công xã
nguyên thuỷ chúng ta tiến lên chế độ phong kiến. Chế độ phong kiến Việt Nam là
chế độ phong kiến phương Đông, nó cũng khác với chế độ phong kiến phương Tây.
Chế độ phong kiến Việt Nam không có thời kỳ tồn tại chế độ lãnh địa với quan hệ
lãnh chúa - nông nô; không trải qua thời kỳ phân quyền, cát cứ lâu dài, đặc điểm
này có ảnh hưởng chi phối đến sự cố kết cộng đồng và sự phát triển của dân
tộc.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước
ta (1858) xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thuộc địa nửa
phong kiến. Xã hội đó tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân lao động
với bọn địa chủ phong kiến. Sự vận động của hai mâu thuẫn cơ bản trên dẫn đến
mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc
Pháp xâm lược và bè lũ tay sai. Những chuyển biến đó tác động sâu sắc đến việc
hình thành sự đoàn kết, cố kết dân tộc trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự
do của nhân dân.
Trong thời kỳ thống trị của chủ
nghĩa thực dân, giai cấp tư sản Việt Nam có nảy sinh và phát triển ở mức độ nào
đó, song rất non yếu. Do đó, chủ nghĩa dân tộc tư sản tuy có một số ảnh hưởng
nhất định, nhưng không giữ vai trò chi phối và không thay thế cho chủ nghĩa yêu
nước truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam từ khi có sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản đã có bước phát triển nhảy vọt về chính trị, giành được
độc lập dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và từng bước tiến lên CNXH. Đó
là quá trình biến đổi căn bản về sự đoàn kết dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam cũng chuyển sang giai đoạn phát triển mới về chất, yêu nước gắn liền với yêu
CNXH, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Đó là cơ sở tạo nên sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất mới, là nguồn gốc
sâu xa và nguyên nhân quan trọng của mọi thắng lợi cách mạng Việt
Nam.
Lịch sử chống ngoại xâm của dân
tộc ta hun đúc nên tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh bất khuất, kiên cường,
niềm tự tôn dân tộc tác động sâu sắc đến sự phát triển
của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Nước Việt Nam nằm ở khu vực án ngữ
đường giao lưu giữa Bắc Á và Nam Á, Đông Á sang Tây Á, nơi có nhiều đường giao
thông quan trọng, cửa ngõ thông thương với các nơi trong khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý hiếm. Vì vậy, từ xưa đến nay,
nước ta luôn bị ci là "miếng mồi béo bở", mảnh đất đầy hấp dẫn đối với nhiều đế
quốc hung bạo. Kể từ cuộc kháng chiến quân Tần (thế kỷ II - trước Công nguyên,
đến năm 1975 kế thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước) trong vòng 22 thế kỷ,
dân tộc ta có tới 12 thế kỷ phải tiến hành kháng chiến chống lại nhiều kẻ thù
thường có tiềm lực kinh tế và quân sự vượt trội hơn ta gấp nhiều
lần.
Những cuộc kháng chiến của nhân
dân ta chống quân xâm lược phương Bắc trước đây, kháng chiến chống chủ nghĩa
thực dân kiểu cũ, kiểu mới trong thời hiện đại đều là những cuộc chiến đấu không
cân sức, diễn ra rất ác liệt cả về quy mô và tính chất chiến tranh. Trong điều
kiện như vậy, không có con đường nào khác, cả dân tộc đồng lòng nhất tề đứng
dậy, cố kết với nhau, tạo thành sức mạnh to lớn chiến đấu và chiến thắng quân
thù. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Dân ta có một lòng
nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi
khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm
tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước ".
Những điều kiện đó đã tác động sâu
sắc tới quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, hình
thành truyền thống đoàn kết, cố kết dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước hình thành nên những phẩm chất đặc biệt của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
anh hùng cách mạng Việt Nam.
Sự thống nhất trong tính đa dạng
của nền văn hoá dân tộc tác động lớn đến sự hình thành và
phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Văn hoá, văn minh Việt Nam là một
bộ phận của văn hoá, văn minh nhân loại, đồng thời có bản sắc riêng, rất rõ nét
của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia dân tộc
thống nhất, mỗi dân tộc có truyền thống văn hoá riêng của mình (phong tục, tập
quán, ngôn ngũ, tiếng nói) tạo nên một nền văn hoá đa dạng, phong phú của nền
văn hoá thống nhất. Thống nhất trong tính đa dạng, phức tạp.
Hơn thế, Việt Nam nằm ở vị trí
chiến lược quan trọng, là dải đất hẹp nằm giữa núi cao trùng điệp, vừa tiếp giáp
với các quốc gia trên đất liền vừa nối liền với các quần đảo phía Nam. Việt Nam
nằm giữa hai trung tâm văn hoá lớn nhất châu Á là văn hoá ấn Độ và văn hoá Trung
Hoa. Hai nền văn hoá ấy đã xâm nhập mạnh mẽ vào đời sống văn hoá Việt Nam. Tuy
vậy, nền văn hoá Việt Nam không bị đồng hoá với văn hoá bên ngoài. Trái lại,
chúng ta vẫn giữ được cốt cách, bản sắc riêng của mình. Đó là sự vững vàng về
bản lĩnh, cốt cách văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam, đồng thời rất nhạy bén
thích nghi, biết hội nhập, biết lựa chọn tinh hoa văn hoá thế giới biến nó thành
giá trị văn hoá mang bản sắc dân tộc Việt Nầm. Tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức
yêu nước, thương nòi là một bộ phận cơ bản tạo thành văn hoá Việt Nam. Nó vừa
kết tinh những giá trị tiêu biểu của truyền thống dân tộc, vừa kế thừa phát
triển của nền văn hóa của các dân tộc như là một cơ sở quan trọng để hình thành
phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Quá trình thống nhất quốc gia và
sớm hình thành dân tộc độc lập dã tác
động mạnh mẽ đến sự hình thành phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam.
Dân tộc Việt Nam hình thành rất
sớm, do yêu cầu chống thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên và do sự cố kết nhau
lại để chống ngoại xâm. Truyền thống công xã nông thôn Việt Nam đã là một yếu tố
đóng vai trò đáng kể trong việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Việt
Nam.
Quá trình hình thành, phát triển
của nhà nước, gắn liền với quá trình thống nhất quốc gia.
Tuy mỗi thời kỳ có tên gọi khác
nhau, nhưng dân tộc Việt Nam được hình thành là do nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu
chống ngoại xâm và do nhu cầu trao
đổi kinh tế, văn hoá ngày càng gia
tăng giữa các vùng, các miền lại với nhau, sớm hình thành ý thức cộng đồng, đoàn
kết cố kết dân tộc. Đó là cơ sở của chủ nghĩa yêu nước truyền thống.
* Nhân tố chủ
quan.
Ngoài những điều kiện khách quan
nêu trên tác động đến quá trình hình
thành, phát triển chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam, chúng ta cần làm rõ những nhân tố chủ quan - nhân tố quan trọng
quyết định đến nội dung, hình thức của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Từ khi hình thành nhà nước, từ nhà
nước sơ khai ban dầu, đến nhà nước hiện đại, bất kỳ nhà nước nào cũng quan tâm
chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, kế thừa và phát triển truyền thống yêu nước của các
thế hệ ông cha trong quá trình dựng nước và giữ
nước .
Trong xã hội phong kiến Việt Nam,
nội dung giáo dục truyền thống yêu nước tập trung vào các mối quan hệ như: vua -
nước (trung quân - ái quốc), làng - nước (giữ làng - giữ nước), nước - nhà (nước
mất - nhà tan), nước - dân (yêu nước - thương dân)... Đó là các mối quan hệ
rường mối của xã hội, trong đó quan hệ vua - nước là cơ bản nhất. Với hệ tư
tưởng Nho giáo, giáo dục tư tưởng trung quân là cơ bản nhất. Giai cấp thống trị
luôn giáo dục ý thức bảo vệ độc lập dân tộc, giữ vững sự thong nhất đất nước.
Với mục đích bảo vệ quyền lợi, địa vị thống trị của giai cấp bóc lột. Đất nước
độc lập, quyền lợi kinh tế và địa vị chính trị của họ được bền vững, còn khi đất
nước không được độc lập thì điền trang, thái ấp, quyền uy của giai cấp thống trị
cũng không còn. Đương nhiên, giáo dục ý thức độc lập dân tộc không phải chỉ vì
đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị, mà trong đó còn có quyền lợi của nhân
dân. Chính vì vậy phong trào yêu nước chống giặc ngoại xâm của quần chúng, chủ
yếu là phong trào nông dân liên tiếp diễn ra dưới sự lãnh đạo của các triều đại
phong kiến. Quá trình đấu tranh của nhân dân đã khơi dậy, hun đúc, động viên,
khích lệ tinh thần yêu nước sôi nổi của cả một dân tộc đặc biệt trước hoạ xâm
lăng.
Dân tộc ta thời nào cũng có những
tấm gương yêu nước của các anh hùng, nghĩa sĩ, các danh nhân trong các tầng lớp
nhân dân đứng lên chống thiên tai, ngoại xâm (nhưng chủ yếu là những tấm gương
trong đánh giặc, giữ nước - gắn liền với những chiến công, những sự nghiệp vẻ
vang của lịch sử dân tộc). Những hình ảnh về Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Sơn
Tinh trước kia, những tấm gương Bà Trưng - Bà Triệu, Lê Lợi, Quảng Trung... mãi
mãi là những hình tượng sáng ngời trong bán đại anh hùng ca dựng nước, giữ nước
bất hủ của dân tộc ta. Những tấm gương đó được lưu truyền, kế tiếp và nâng lên
tầm cao mới. Trong thời đại mới, cách mạng Việt Nam do giai cấp vô sản lãnh đạo,
tiếp tục giành, giữ, phát triển nền độc lập của dân tộc theo tinh thần mới thì
chủ nghĩa yêu nước có bước phát triển về chất so với chủ nghĩa yêu nước thời
phong kiến.
Tình yêu quê hương đất nước, yêu
thương giống nòi luôn được gắn và bện quyện với nhau trong ý thức của người dân
Việt Nam. Từ xa xưa, tình yêu đó đã được chuyển thành ý thức biết nâng niu, quý
trọng những giá trị văn hoá - tinh thần của quần chúng, trở thành hành động
thiết thực của quần chúng trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Đặc biệt trước hoạ
xâm lăng, tình yêu ấy được chuyển sang thái độ căm thù, ý chí quyết tâm chiến
đấu của từng người dân, của cả cộng đồng dân tộc đối với kẻ thù bán nước, cướp
nước. Thái độ căm thù, khinh ghét kẻ thù, tình yêu đất nước bao la đã trở thành
giá trị đạo đức của truyền thống lịch sử dân tộc ta trong suốt mdy nghìn năm
lịch sử. Đó là nhân tố chính trị, tinh thần tạo nên truyền thống sức mạnh của
dân tộc ta. Trải qua các triều đại khác nhau, sự giáo dục truyền thống đó đều
được quan tâm, phát triển đúng mức, một yếu tố quan trọng hình thành, phát triển
truyền thống yêu nước Việt Nam.
Từ sự phân tích những điều kiện
khách quan và nhân tố chủ quan trên đây chúng ta có thể kết luận rằng: lịch sử
dân tộc Việt Nam từ khi ra đời đến nay là lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước.
Sự đoàn kết, cố kết dân tộc, thống nhất Tổ quốc là xu hướng cơ bản, chủ yếu của
dân tộc ta. Trong mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc đều tồn tại, phát triển chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam - một sức mạnh tinh thần, vật chất mạnh mẽ trong sự
nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện
đại
"Chỉ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện
đại" là một quan niệm dùng để chỉ một
giai đoạn phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh
- yêu nước XHCN.
Bản chất của chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam hiện đại.
Một trong những bài học kinh
nghiệm tổng quát của cách mạng Việt Nam do Đại hội toàn quốc lần thứ tư của Đảng
(1976) nêu ra là: "Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH,
đường lối đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi
có Đảng, là ngọn cờ bách chiến bách thắng của cách mạng Việt Nam". Với việc
giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, Đảng ta cũng đồng thời nâng chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam lên tầm cao mới - chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí
Minh . Đó là "... Sự kết hợp nhuần nhuyễn
trong nội dung của nó truyền thống tinh hoa hàng nghìn năm của dân tộc ta với
tinh thần cách mạng của thời đại mới, với chủ nghĩa Mác-Lênin, hệ tư tưởng cách
mạng và khoa học của giai cấp công nhân hiện đại".
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện
đại ra đời từ khi cách mạng Việt Nam có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Hơn 70
năm qua chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại đã đóng vai trò động lực tinh thần
to lớn trong việc huy động sức mạnh của dân tộc vào sự nghiệp đấu tranh giành,
giữ độc lập dân tộc trong giai đoạn đã qua, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng
trong công cuộc xây dựng đất nước từng bước quá độ lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc
XHCN hiện nay. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại đó là chủ nghĩa yêu nước
XHCN, dựa trên cơ sở lập trường của giai cấp công nhân, lý luận chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí
Minh.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước
ta, xã hội Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Để giải phóng dân
tộc, đưa lại hạnh phúc cho nhân dân, nhiều phong trào cứu nước đã vùng lên dưới
sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, tiêu biểu như các phong trào Cần Vương,
Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy Tân, kháng thuế ở Trung kỳ - đã
liên tiếp nổ ra và thất bại. Điều đó chứng tỏ không thể dùng sức mạnh của một
chế độ đang suy tàn (chế độ phong kiến) để chống lại một chế độ đang lên (CNTB);
không thể giương cao ngọn cờ dân chủ tư sản để chống lại chủ nghĩa tư bản hiện
đại. Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX đen tối, khủng hoảng về đường lối, không
có đường ra. Vào thời điểm như thế, Nguyễn ái Quốc, người thanh niên Việt Nam
yêu nước xuất hiện, phát hiện ra những nhu cầu lịch sử và tìm cách đáp ứng được
nhu cầu đó của đất nước. Trải qua chiêm nghiệm của những cuộc khởi nghĩa trước
đó, nghiên cứu sự thành công và thất bại của các cuộc cách mạng trên thế giới,
tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa đế quốc và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người
rút ra những kết luận quan trọng: "Muôn cứu nước giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác, con đường cách mạng vô sảm, và "Chỉ có giải
phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng
này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế
giới".
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa
Mác-Lênin, đi theo con đường của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Hồ Chí Minh đã
tìm ra con đường cứu nước đúng đắn của cách mạng Việt. Nam. Đảng Cộng sản Việt
Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo ra đời, với cương lĩnh đúng đắn ngay từ
đầu đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cách mạng Việt Nam trong hơn 70
năm đô hộ của thực dân Pháp (l858-1930).
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ người yêu
nước đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, trở thành người cộng sản. Người đã tìm ra con
đường cứu nước đúng đắn và chính người cùng những người cộng sản Việt Nam đã
thực hiện con đường cứu nước mới. Một chủ nghĩa yêu nước mới của dân tộc Việt
Nam xuất hiện. Chủ nghĩa yêu nước theo hệ tư tưởng cách mạng, khoa học của chủ
nghĩa Mác-Lênin ra đời và đóng vai trò động lực tinh thần mạnh mẽ của nhân dân
ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giành
độc lập tự do cho Tổ quốc; mở ra thời đại mới cả nước độc lập thống nhất đi lên
CNXH.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời
đại Hồ Chí Minh là tiếp thu, kế thừa và phát triển những giá trị tinh hoa truyền
thống yêu nước do lịch sử để lại. Tình yêu quê hương đất nước, yêu thương giống
nòi; đùm bọc che chở lẫn nhau, ý thức phục vụ Tổ quốc; tinh thần sẵn sàng hy
sinh vì dân, vì nước... Tuy nhiên, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí
Minh có bản chất giai cấp hoàn toàn khác và có biểu hiện cụ thể khác với chủ
nghĩa yêu nước truyền thống.
Cơ sở lý luận - Tư tưởng của chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh; là lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời
đại Hồ Chí Minh đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét, lý giải
các vấn đề về quê hương đất nước, con người với văn hoá dân tộc, chế độ chính
trị của đất nước. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại có hệ tư tưởng chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng, lập trường yêu nước hiện đại có thế
giới quan, niềm tin cộng sản chỉ đạo hướng dẫn. Mục tiêu, phương hướng hành động
của chủ nghĩa yêu nước hiện đại bao giờ cũng được xác định từ những cơ sở lý
luận, thực tiễn sâu sắc, đồng thời chỉ ra những điều kiện, phương thức để thực
hiện mục tiêu đề ra.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện
đại là sự hoà quyện các yếu tố dân tộc, giai cấp, quốc gia, quốc tế; dân tộc,
giai cấp và nhân loại không đối lập nhau.
Chủ nghĩa. yêu nước Việt Nam hiện
lại !à động lực tinh thần, vật chất mạnh mẽ, hướng mọi khả năng, sức mạnh của
dân tộc vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước
tiến lên CNXH.
Nội dung của chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam hiện đại
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện
đại không đó lập mà kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống lên
tầm cao mới, chất lượng mới. Đó là chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, "...
đòi hỏi phải gắn liền làm một lòng yêu Tổ quốc với lòng yêu chế độ xã hội mới,
chế độ xã hội chủ nghĩa". Những nội dung chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước xã
hội chủ nghĩa là:
Đó là một chủ nghĩa yêu nước theo
lập trường chính trị của giai cấp công nhân Việt
Nam. Khi giai cấp công nhân bước lên vũ
đãi chính trị đảm nhận sư mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng, một giai cấp có khả
năng nắm vững và giải quyết đúng đắn về dân tộc, đưa dân tộc tiến lên thì cũng
đồng thời làm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mang hệ tư tưởng mới, tiên tiến
nhất của thời đại, hệ tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Giai cấp công nhân trở thành địa biểu chân chính cho dân tộc, đại biểu qyền lợi
cho dân tộc và cho nhân dân lao động. Lợi ích của giai cấp công nhân gắn chặt và
thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động, của dân tộc.
Tình cảm yêu nước của chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam hiện đại là tình yêu quê hương, đất nước một cách toàn
diện (yêu quê hương làng xóm, nơi "chôn
rau, cắt rốn" của mỗi con người, tiến lên yêu quý sự toàn vẹn, thống nhất Tổ
quốc Việt Nam, đấu tranh với những tư tưởng cát cứ, chia cắt đất nước, miền Nam
- miền Bắc, miền ngược, miền xuôi). Tình yêu Tổ quốc bắt nguồn từ tình yêu gia
đình, dòng họ, huyết thống tiến lên tình yêu đồng bào bao la rộng lớn, yêu quý,
kính trọng tất cả các tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tình yêu quê
hương, đất nước còn được biểu hiện ở tình đồng chí, đồng đội, tình yêu của những
người cùng chí hướng, mục đích. Tình yêu Tổ quốc gắn bó chặt chẽ với yêu chế độ
XHCN, người yêu nước phải là con người XHCN, yêu CNXH là người yêu nước
nhất.
Về ý chí và hành động, chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam hiện đại đề cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc
lập dân tộc và CNXH. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
là đường lối cơ bản, chỉ đạo cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản. Độc lập
dân tộc trong thời đại mới có nội dung sâu sắc hơn đó là độc lập vê fmặt lãnh
thổ (không có sự xâm lược, nô dịch của nước ngoài) độc lập về kinh tế, chính
trị, văn hóa... Độc lập dân tộc loại trừ khả năng nạn dân tộc này đe dọa, thôn
tính dân tộc khác. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; xây dựng thành công CNXH
là tạo ra những tiền đề cần thiết để bảo vệ, củng cố vững chắc nền độc lập dân
tộc. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại đòi hỏi mọi người phải biết kế thừa,
bảo vệ, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc biệt trong điều kiện mở rộng
giao lưu quốc tế và tham gia ngày càng sâu, rộng vào các quan hệ quốc tế đa
phương, đa dạng, chúng ta thực hiện hòa nhập, nhưng không hòa tan. Trong quá
trình tham gia hợp tác với cac sns khu vực và trên thế giới chúng ta vẫn giữ
vững mục tiêu CNXH, giữ vững cốt cách, bản sắc văn hóa Việt Nam. Chủ nghĩa yêu
nước hiện đại không cho phép chúng ta cam chịu đói nghèo lạc hậu. Mỗi người phải
phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu và sự nghiệp xây dựng đất
nước theo don đường xã hội chủ nghĩa, biến nước ta thành nước xã hội chủ nghĩa
có công nghiệp phát triển, hiện đại.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện
đại là sự hoà quyện, kết hợp hài hoà các mối quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân
loại; chủ nghĩa yêu nước chân chính với
chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giải quyết hài hoà giữa lợi ích cá
nhân - gia đình - tập thể - xã hội. Sự kết hợp này được biểu hiện thông qua từng
con người, từng tổ chức và cả cộng đồng dân tộc.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện
đại đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa dân tộc cực
đoan, chủ nghĩa sô vanh nước lớn, sự kỳ
thị dân tộc, sắc tộc, chủng tộc, tính tự ty dân tộc, dân tộc hẹp hòi, từ bỏ sự
giúp đỡ quốc tế đối với các dân tộc khác.
Như vậy, nội dung của
chủ nghĩa yêu nước hiện đại thể hiện tập trung mục tiêu, lý tưởng của dân tộc
ta, nhân dân ta là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
XHCN: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh.