ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
21:21
Sinh
thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán với quan điểm, coi việc xây dựng, chỉnh
đốn Đảng là một quy luật tất yếu cho sự vận động và phát triển của
Đảng. Đây
là hai mặt của một quá trình thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau, gắn kết
với nhau vì mục tiêu đem lại cho Đảng một chất lượng mới, một tầm cao mới để
Đảng luôn tồn tại với tư cách người lãnh đạo cách mạng, luôn phát triển với tư
cách Đảng cầm quyền. Do vậy, với Người, xây dựng và chỉnh đốn
Đảng không chỉ là nhiệm vụ then chốt, mang tầm chiến lược, mà còn là công việc
thường xuyên của Đảng trong vai trò lãnh đạo cách mạng, bởi
“Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền
mới chạy”[1].
Điều đó được thể hiện trên các vấn đề:
1.
Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt
Lịch
sử đã chứng minh, một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của các tổ
chức cách mạng trước khi có sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt nam, là các tổ chức
đó đều thiếu một đảng tiên phong đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động, đặc
biệt là thiếu một chủ nghĩa làm gốc. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề
“phải có chủ nghĩa làm cốt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững
thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo
chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tầu
không có bàn chỉ nam” và “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ
nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[2],
“chủ nghĩa Mã Khắc Tư (Mác) và Lênin”[3].
Xây
dựng và chỉnh đốn Đảng, trước hết phải dựa trên nguyên tắc nền tảng là nắm vững
và lấy chủ nghĩa Mác-Lênin “làm cốt”. Bởi, đối với sự vận động và phát triển của
Đảng ta, chủ nghĩa Mác – Lênin, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “lý luận cách
mạng tiền phong”, là “lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng”, mà còn là “học
thuyết dạt dào sức sống”, có khả năng làm cho Đảng ta “trở thành hình thức tổ
chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương
tâm của dân tộc” và giúp cho Đảng ta “khơi nguồn sức mạnh” của chính mình, “khơi
nguồn lực lượng và sức mạnh sáng tạo của nhân dân” để giành thắng lợi trong sự
nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Điều đó không có nghĩa là giáo điều theo từng
câu, từng chữ của C.Mác, Ph. Ăngghen, hay V.I.Lênin, mà như Hồ Chí Minh đã nói,
là nắm vững tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời tiếp thu những tinh
hoa của văn hoá dân tộc và nhân loại, tham khảo những kinh nghiệm của các nước,
các Đảng anh em, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam để
định ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn cho cách mạng Việt Nam; là
phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, hiểu rõ phong trào cách mạng Việt Nam để
vận dụng sáng tạo và hơn nữa, còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác -
Lênin.
2.
Luôn luôn kiên định con đường đã lựa chọn
Kiên
định con đường đã chọn là một trong những nguyên tắc, nội dung căn bản đảm bảo
vai trò lãnh đạo, cũng như để tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của dân
tộc, chính vì thế, trong quá trình lãnh đạo Đảng và cách mạng, Hồ Chí Minh luôn
đòi hỏi Đảng phải kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội – “con đường
chung của thời đại, của lịch sử” – trên đất nước ta; kiên định vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; kiên định sự nghiệp xây dựng nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển và
thực hành dân chủ rộng rãi với tư cách “cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết
mọi khó khăn”; xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Để làm tròn sứ mệnh
lịch sử lớn lao đó, theo Người, Đảng phải dũng cảm, thẳng thắn thừa nhận khuyết
điểm và kiên quyết từ bỏ những gì đã trở nên lạc hậu, lỗi thời hay sai trái để
tạo ra những cái mới, đúng đắn hơn, tiến bộ hơn. Tức là, “một Đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của
mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh
ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một
Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính. Đảng cần phải biết những ưu điểm
và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng”[4].
3.
Đảng phải đặt lợi ích của nhân dân, dân tộc lên trên hết, trước
hết
Sự nghiệp
cách mạng là do nhân dân tiến hành. Nhân dân là người làm ra lịch sử. Sức mạnh
của nhân dân là vô địch. Không có nhân dân, Đảng, Chính phủ không có lực lượng.
Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới này không có sức mạnh
nào bằng sức mạnh của nhân dân. Có dân là có tất cả. “Dễ mười lần không dân cũng
chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”... và trong chế độ
mới, Đảng
vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ của nhân dân; Đảng cầm quyền nhưng nhân dân
là chủ; không chỉ có nước mới lấy dân làm gốc, mà Đảng cũng phải lấy dân làm
gốc, bởi cái gốc này chính là cái đem lại sinh lực vô tận cho Đảng; Đảng cầm
quyền nhưng Đảng không có quyền lợi gì của riêng mình, ngoài quyền lợi của giai
cấp, của dân tộc, của nhân dân. Đối với cán bộ, đảng viên phải
luôn “đặt lợi ích
của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết
quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập
thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu, đi sát thực
tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của
nhân dân”... Tóm lại, Đảng
phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, thực
hiện “Đảng – dân một ý chí” để Đảng không ở trên dân, cũng không ở ngoài dân, mà
ở trong dân, trong lòng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng là đội
tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp
mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”[5].
4.
Phải giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng
Thực
tiễn cách mạng đã chứng minh, đoàn kết là cái làm nên sức mạnh to lớn của Đảng,
là cội nguồn dẫn đến mọi thành công của Đảng, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân
của khối đại đoàn kết toàn dân và với tư cách là hiện thân cho sự đoàn kết trong
Đảng, mỗi khi “nói về Đảng”, về sự gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng, bao
giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói về việc giữ gìn sự đoàn kết
trong Đảng. Thấu hiểu và nhận thức sâu sắc về vai trò cực kỳ
quan trọng của sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, Người đã khẳng định: “Đoàn kết
là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta” và chính là “nhờ đoàn
kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ
quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh
đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.
Chính vì thế, Người yêu cầu Đảng ta, từ Trung ương đến các chi bộ, từ cán bộ
lãnh đạo đến đảng viên thường, đều “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của
Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[6].
Ở
đó, sự thống nhất về đường lối, về quan điểm là cơ sở để tạo nên sự thống nhất
về hành động trong toàn Đảng nhằm đưa đường lối, quan điểm của Đảng vào cuộc
sống, biến các chủ trương của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng nhân
dân. Không chỉ thế, Người còn cho rằng, trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài
và gian khổ, khi tình hình càng phức tạp, nhiệm vụ càng nặng nề thì khi đó,
“sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất
là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”, bởi sự đoàn kết thống nhất
của đội ngũ cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến sự đoàn kết thống nhất của
nhiều cán bộ, đảng viên, đến sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng”[7].
5.
Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê
bình
Để
thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết phải lấy tập trung dân chủ
làm nguyên tắc tổ chức của Đảng để tạo nên trong toàn Đảng sự thống nhất về tư
tưởng, tổ chức, hành động và làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến
đánh thì chỉ như một người”, vừa phát huy được sức mạnh của mỗi đảng viên, vừa
phát huy được sức mạnh của toàn Đảng; phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ
để mọi cán bộ, đảng viên đều có thể tham gia thảo luận và quyết định những vấn
đề hệ trọng của Đảng; thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách với
tư cách nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và đặc biệt, phải thường xuyên thực hiện tự
phê bình và phê bình với tư cách nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, quy luật phát
triển của Đảng, là phương thức không những phải “luôn luôn dùng”, mà còn phải
“khéo dùng”, phương thức tốt nhất, hiệu quả nhất và là “vũ khí sắc bén” để giữ
gìn, củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Nói về điều này,
Người đã nhấn mạnh rằng, “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất
tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Rằng, “trong
Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự
phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển
sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”[8],
tự phê bình và phê bình phải trở thành công việc hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng
viên, từ người lãnh đạo đến đảng viên thường, từ cấp trên đến cấp dưới đều phải
thường xuyên, nghiêm túc thực hiện “tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như
mỗi ngày phải rửa mặt”. Làm được như thế thì theo Người, “trong Đảng sẽ không có
bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng”.
Tự
phê bình và phê bình không chỉ giới hạn trong nội bộ Đảng, mà còn cần phải được
mở rộng đến mọi tầng lớp nhân dân lao động. Để tiến bộ, mọi cán bộ, đảng viên
đều phải biết “lắng nghe ý kiến của quần chúng”, “phải sẵn sàng nghe quần chúng
phê bình và thật thà tự phê bình”, đồng thời phải thường xuyên nâng cao tính tự
giác và luôn giữ thái độ trung thực, đúng mực trong tự phê bình và phê bình,
phải “biết thật thà tự phê bình và thành khẩn phê
bình đồng chí khác để cùng nhau tiến bộ”. Trong tự phê bình và
phê bình, theo Người, không được cá nhân chủ nghĩa, không được phép mưu cầu lợi
ích cá nhân, không được kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, phê bình người khác
nhưng lại không muốn người khác phê bình mình, không tự phê bình hoặc tự phê
bình một cách không nghiêm túc, không thật thà, “sợ tự phê bình thì sẽ mất thể
diện, mất uy tín”. Tự phê bình và phê bình, Người nhấn mạnh, không phải chủ yếu
là để xử lý, mà cái chính là để mỗi cán bộ, đảng viên đều nhận thức rõ mặt tốt
mà phát huy, mặt còn yếu kém mà khắc phục, sửa chữa, nhất là để cùng nhau tiến
bộ và đặc biệt, trong tự phê bình và phê bình phải lấy “tình đồng chí thương yêu
lẫn nhau” làm phương châm chủ đạo.
6.
Thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng
viên
Coi
đạo đức là cái gốc của người cách mạng, đạo đức cách mạng là cơ sở nền tảng của
Đảng cầm quyền, là “quyết tâm suốt đời” đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, “ra
sức làm việc” cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính
sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước
lợi ích cá nhân mình; “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”, vì Đảng, vì dân mà
đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc;..., Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ
vang”[9].
Rằng, sự nghiệp cách mạng rất vẻ vang nhưng cũng vô cùng khó khăn, gian khổ mà
Đảng là người lãnh đạo. Chính vì thế, trước lúc đi xa, trong Di
chúc để lại cho chúng ta, khi nói về xây dựng và chỉnh đốn
Đảng, Người vẫn không quên căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng
viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách
mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn
Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân”. Cùng với đó, để đảm bảo nguồn lực, lực lượng kế cận
sự nghiệp cách mạng trong tương lai, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng phải đặc
biệt quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ những người kế thừa sự nghiệp cách mạng
của Đảng. Coi việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan
trọng và rất cần thiết”, Người luôn yêu cầu Đảng ta phải chăm lo giáo dục đạo
đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người cách mạng vừa “hồng”, vừa
“chuyên”.
Như
vậy, có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, sự gắn kết giữa
xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng là để xây dựng Đảng ta thành một Đảng cách mạng
chân chính lãnh đạo sự nghiệp cách mạng to lớn của giai cấp và của dân tộc, một
Đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, một Đảng tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự,
lương tâm của dân tộc và thời đại. Gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng vì
mục tiêu lâu dài ấy, trước hết phải làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh,
đoàn kết thống nhất trên cơ sở tự phê bình và phê bình, thực hành dân chủ rộng
rãi, phải làm cho Đảng trở thành một Đảng có đạo đức, có trí tuệ và hơn nữa,
phải làm cho Đảng luôn là một Đảng cầm quyền, luôn xứng đáng là người lãnh đạo,
là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, một lòng một dạ phục vụ giai cấp,
phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, thiết lập
“quan hệ máu thịt” với nhân dân, thực hiện “Đảng – dân một ý chí”; đồng thời
phải chăm lo đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau và góp phần đắc lực vào việc
xây dựng khối đoàn kết giữa các Đảng Cộng sản và công nhân quốc
tế.
Trong
điều kiện hiện nay, việc chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở lên cấp thiết hơn
bao giờ hết để Đảng ta thực sự giữ vững và xứng đáng là
đội tiên
phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam. Từ đó, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành một nước công nghiệp
hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
[1] Hồ Chí
Minh. Toàn tập, t.2. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2000, tr.268.
[2] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.2, tr.268
[3] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.2, tr.280.
[4] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.5, tr. 261.
[5] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.3, tr. 3.
[6] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.12, tr. 497.
[7] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.7, tr. 492.
[8] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.5, tr. 239.
[9] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.9, tr.
283.