BẢN LĨNH VĂN HÓA VIỆT NAM TRƯỚC ĐÒI HỎI CỦA DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI
08:39
Lịch
sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam ta luôn gắn liền với quá trình giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Trong lịch sử giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc, dân tộc Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng trước sự
du nhập của những trào lưu văn hoá ngoại lai. Hiện nay, xu thế mở cửa, giao lưu,
hội nhập văn hoá ngày càng trở nên sâu rộng, bản lĩnh văn hoá Việt Nam đang phải
đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của dân
tộc. Trước những yêu cầu của dân tộc và thời đại, đặc biệt là trong xu thế giao
lưu, hội nhập hiện nay, việc xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam có ý nghĩa to
lớn đối với việc phát huy sức mạnh văn hoá, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Bản lĩnh của
một nền văn hoá là tổng hợp toàn bộ những nhân tố thể hiện cốt cách, khí phách,
tư chất và sức mạnh khẳng định bản sắc dân tộc trước tác động của các nền văn
hoá khác trong giao lưu, hội nhập. Một nền văn hoá thiếu bản lĩnh thì dễ bị đánh
mất bản sắc dân tộc. Bản sắc văn hoá là hồn dân tộc và do vậy, mất bản sắc văn
hoá chẳng khác nào một người không còn thần sắc. Phát huy bản lĩnh văn hóa Việt
Nam trong xu thế toàn cầu hóa, chính là việc nuôi dưỡng và bồi đắp sức sống cho
những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trước sự tác động đa chiều của
thời đại.
Việt Nam có
lịch sử phát triển văn hoá lâu đời. Lịch sử đó thống nhất với lịch sử dựng nước
đi đôi với giữ nước. Với đặc thù tự nhiên, với vị trí địa lý là trung tâm giao
lưu Bắc – Nam, Đông – Tây, Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu và đã tiếp thu được
nhiều giá trị văn hoá bên ngoài để làm giàu văn hoá dân tộc. Có thể nói, “đầu
vào” của văn hoá Việt Nam rất đa dạng, nhưng “đầu ra” lại rất đặc sắc Việt Nam.
Nền văn hoá Việt Nam có nhiều dấu ấn, giá trị văn hoá đặc sắc của Phật giáo, Nho
giáo, Đạo giáo, thậm chí cả của phương Tây. Điều đó là do sự tiếp thu có nguyên
tắc - không đánh mất bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam. Các giá trị văn hoá
bên ngoài rất đa dạng, phong phú, nhưng khi vào Việt Nam đều được Việt Nam hoá.
Chẳng hạn, từ bi của Phật giáo khi xâm nhập vào Việt Nam đã trở thành đại từ,
đại bi của Việt Nam; cái hùng, cái nhân của Nho giáo đã trở thành cái đại hùng,
đại nhân của Việt Nam (“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo
trừ bạo” - Nguyễn Trãi).
Cái đặc sắc
và bản lĩnh văn hoá Việt Nam luôn dựa trên sự lựa chọn lối ứng xử “hài hoà” của
chủ thể văn hoá. Hài hoà với thiên nhiên, hài hoà trong xã hội được biểu hiện ở
tất cả các mặt, các lĩnh vực của cuộc sống và trên tất cả các cấp độ, từ cách
đối nhân xử thế hàng ngày đến nếp sống, lối tư duy, quan niệm về đạo lý làm
người. Do ứng xử hài hoà, văn hoá Việt Nam không cự tuyệt các giá trị văn hoá
bên ngoài theo lối cực đoan, mà sẵn sàng tiếp thu một cách có nguyên tắc, không
đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc.
Trong lịch sử
dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ văn hoá Việt Nam có cơ hội tiếp thu những giá trị
từ nhiều nền văn hoá, song cũng chứa đựng nhiều nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc
của văn hoá như hiện nay. Để phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, bản lĩnh văn hoá Việt Nam phải được củng cố vững vàng trong
tình hình mới. Nội dung quan trọng nhất để xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam là
tuân thủ quy luật đó một cách linh hoạt và sáng tạo. Do vậy, xây dựng bản lĩnh
văn hoá Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải có chiến lược phát triển văn hoá
một cách khoa học, kết hợp được và thể hiện được sự thống nhất giữa tính nguyên
tắc với tính linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng. Đây là hai mặt của một vấn đề.
Nếu vận dụng một cách khoa học, chúng sẽ trở thành tiền đề, động lực phát triển
cho nhau; còn nếu vận dụng một cách thiếu khoa học, chúng sẽ cản trở sự phát
triển của nhau. Sự thống nhất giữa tính nguyên tắc và sự linh hoạt, sáng tạo
trong vận dụng đó còn phải được thẩm thấu vào tiềm thức của mỗi chủ thể ở các
cấp độ khác nhau để tạo ra sự thống nhất, đồng bộ từ trên xuống dưới, thậm chí ở
mỗi con người cụ thể.
Bản lĩnh của
một nền văn hoá dựa trên sức đề kháng với những tác động từ bên ngoài trong quá
trình phát triển và trong quan hệ giao lưu, hội nhập. Trong lịch sử, văn hoá
Việt Nam luôn có sức đề kháng to lớn. Nhờ đó, văn hoá Việt Nam đã tạo dựng được
bản lĩnh vững vàng trong giữ gìn bản sắc dân tộc. Trước sức mạnh xâm nhập của
các giá trị văn hoá bên ngoài, văn hoá Việt Nam đã không bị đồng hoá, không đánh
mất bản sắc của mình. Sức đề kháng đó của văn hoá Việt Nam còn có cội nguồn từ
tầng sâu của tâm hồn, trí tuệ, lòng tự tôn dân tộc, không chịu khuất phục trong
mỗi con người Việt Nam. Cội nguồn sức đề kháng của văn hoá Việt Nam là như vậy,
nên chính sách đồng hoá về văn hoá trong suốt thời gian đô hộ cả ngàn
năm của phong kiến phương Bắc, thậm chí cả của chủ nghĩa thực dân cũ và mới hơn
một trăm năm vẫn không làm phai nhạt bản sắc văn hoá dân tộc. Dân tộc ta, dù bị
thất bại về quân sự nhiều lần, nhưng nhờ cội nguồn sức mạnh đó, cuối cùng vẫn
vùng dậy đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập dân tộc.
Hiện nay, sức
đề kháng trong bản lĩnh văn hoá Việt Nam lại một lần nữa đứng trước thử thách
của sự xâm nhập với quy mô lớn của các giá trị văn hoá bên ngoài. Sự xâm nhập đó
không chỉ giới hạn ở quy luật giao lưu, hội nhập văn hoá, mà còn ở chính sách
xâm lược về chính trị, quân sự của các thế lực thù địch. Do vậy, giờ đây, hơn
lúc nào hết, chúng ta phải có chiến lược nâng cao sức đề kháng của văn hoá Việt
Nam một cách phù hợp để nâng cao bản lĩnh văn hoá Việt Nam – một vấn đề sống còn
của dân tộc ta hiện nay.
Nâng cao sức
đề kháng của nền văn hoá dân tộc ta hiện nay là quá trình làm cho cơ thể văn hoá
Việt Nam được “miễn dịch” với mọi tác động của các phản giá trị đang làm băng
hoại văn hoá. Sức đề kháng đó chỉ có thể có được khi các yếu tố bên trong cấu
thành nền văn hoá Việt Nam cùng phát triển và tác động đồng thuận theo định
hướng của Đảng ta. Như vậy, Đảng phải tự đổi mới ngang tầm nhiệm vụ để thật sự
là đạo đức, là văn minh, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, đủ sức lãnh đạo xây
dựng sức đề kháng cho văn hoá Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội
nhập hiện nay. Mặt khác, mỗi con người Việt Nam phải thật sự là một chủ thể kiên
cường trước sự lôi kéo, mua chuộc của những phản văn hoá. Quá trình nâng cao sức
đề kháng cho văn hoá Việt Nam cần trang bị cho mỗi người khả năng nhận thức và
tự hào về lịch sử phát triển văn hoá dân tộc với tất cả những giá trị của truyền
thống oai hùng trong dựng nước đi đôi với giữ nước. Đồng thời, cần phải tạo ra
tâm lý biết hổ thẹn với non sông đất nước khi Tổ quốc bị xâm lăng. Trong hệ giá
trị văn hoá truyền thống Việt Nam, tội lớn nhất là phản bội dân tộc, “rước voi
về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà”. Hiện nay, tệ sùng bái văn hoá phương Tây,
quay lưng lại quá khứ, thiếu trách nhiệm với hiện tại và mơ hồ về tương lai dân
tộc cần phải được lên án mạnh mẽ và đào thải ra khỏi đời sống xã
hội.
Để bản sắc
văn hóa dân tộc trở thành “bộ lọc” tốt, phải xác định rõ ranh giới giữa tinh hoa
văn hóa và các yếu tố lạc hậu trong văn hóa truyền thống. Tinh hoa văn hóa có
tính bền vững truyền từ đời này sang đời khác, sống mãi với một dân tộc. Nhưng
do sự hạn chế có tính lịch sử, văn hóa quá khứ chứa đựng những yếu tố lạc hậu,
trở thành vật cản của sự phát triển xã hội. Thực tế cho thấy, một khi buông lỏng
quản lý văn hóa trong cơ chế thị trường, thì lập tức mặt trái của cơ chế thị
trường tạo điều kiện cho những mặt trái của văn hóa quá khứ, (như hủ tục, lệ
làng, mê tín dị đoan, tư duy tiểu nông, lối sống lạc hậu…) phát triển nhanh
chóng. Cùng nằm trong khuôn khổ của văn hóa quá khứ, nên việc tìm ra ranh giới
này không phải là đơn giản, dễ nhầm lẫn hoặc rơi vào máy móc, làm tổn hại đến
giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Vì thế, việc xác định ranh giới đó là rất
cần thiết, nhằm góp phần làm sáng rõ giá trị đích thực của bản sắc văn hóa Việt
Nam trong mọi thời đại.
Nâng
cao sức đề kháng cho văn hoá Việt Nam, chúng ta còn phải đào thải những phản giá
trị nảy sinh từ chính mặt trái của kinh tế thị trường để xây dựng cơ thể văn hoá
Việt Nam không còn những nhân tố làm băng hoại đạo đức, lối sống, suy đồi về văn
hoá. Một cơ thể văn hoá cường tráng sẽ không còn những “vi rút” gây bệnh từ bên
trong. Sự xâm nhập những phản giá trị từ bên ngoài bao giờ cũng thông qua những
phản giá trị nảy sinh từ bên trong. Do vậy, sự thống nhất giữa phòng ngừa, đào
thải những phản giá trị ở bên trong với đẩy lùi sự xâm nhập những phản giá trị
từ bên ngoài cần được coi là giải pháp hữu hiệu trong xây dựng sức đề kháng cho
văn hoá Việt Nam hiện nay.
Một
dân tộc chỉ biết mỗi “làm giàu” là dân tộc thiếu chiều sâu. Mục tiêu mà Đảng ta
đề ra là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là sự kết hợp
các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội trong quá trình xây dựng, phát
triển đất nước. Không thể xây dựng một xã hội văn minh với nền kinh tế lạc hậu,
thấp kém; ngược lại, có một nền kinh tế phát triển nhưng thiếu văn minh thì
không phải là một xã hội tiến bộ. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để kinh tế và
văn hóa phát triển hài hòa trong sự phát triển của xã hội, để kinh tế không phá
hoại văn hóa và văn hóa không cản trở sự phát triển kinh tế.
Xây dựng bản
lĩnh văn hoá Việt Nam hiện nay, chúng ta không thể không phát triển tư chất,
khí phách, cốt cách của chủ thể văn hoá trong tư thế ứng xử với xu thế giao lưu,
hội nhập. Bởi lẽ, bản lĩnh của một nền văn hoá bao giờ cũng biểu hiện tập trung,
sâu sắc ở tư chất, cốt cách và khí phách của chủ thể văn hoá. Mỗi dân tộc đều có
tư chất, khí phách riêng trong quan hệ, giao lưu với văn hoá nước ngoài. Văn hoá
Việt Nam luôn thể hiện tư chất, cốt cách, khí phách đặc sắc của dân tộc Việt
Nam. Mặc dù là một nước nhỏ bên cạnh nước lớn, trong thế liên tục phải chống lại
sự đồng hoá văn hoá, nhưng dân tộc Việt Nam đã hình thành cho mình tư thế hiên
ngang, khí phách anh hùng, không chịu khuất phục. Trước sự phát
triển rực rỡ của nền văn hoá Hán, nhiều dân tộc xung quanh, mặc dù chiến thắng
về quân sự, nhưng lại thất bại về văn hoá, bị đồng hoá về văn hoá và trở thành
bản sao của văn hoá Hán. Thế nhưng, cũng trong bối cảnh đó, văn hoá Việt Nam vẫn
luôn khẳng định được bản sắc của mình, vẫn giữ được cốt cách, tư chất và khí
phách của dân tộc Việt Nam.
Trong bối
cảnh quốc tế đầy biến động như hiện nay, dân tộc Việt Nam với tư cách một chủ
thể văn hoá càng phải thể hiện rõ cốt cách, tư chất, khí phách của mình để bảo
vệ, giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam trước những khó khăn, phức tạp mới trong xu
thế giao lưu, hội nhập toàn cầu. Để thực hiện điều này, trong bối cảnh mới,
chúng ta cần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử, truyền thống yêu
nước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc… để hun đúc khí phách, cốt cách và tư chất con
người Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập ngày càng sâu
rộng. Đồng thời, nêu cao tính chủ động để sẵn sàng giao lưu, hội nhập, tiếp thu
những giá trị văn hoá nhân loại với tư thế, tư chất và khí phách con người Việt
Nam.
Xây dựng bản
lĩnh văn hoá Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay,
chúng ta cũng cần phải gia tăng hàm lượng trí tuệ trong bản sắc văn hoá Việt
Nam. Văn hoá và văn minh không đồng nhất, nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ
hữu cơ với nhau. Hiện nay, sự phát triển với tốc độ vũ bão của cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là kinh tế tri thức đang mở ra một môi
trường cạnh tranh và chạy đua về trí tuệ gay go, phức tạp giữa các quốc gia, dân
tộc và tác động sâu sắc đến các nền văn hoá. Trong bối cảnh đó, sự biểu đạt,
tiếp thu và lan toả những giá trị của một nền văn hoá thể hiện bản lĩnh vững
vàng của chủ thể văn hoá một dân tộc cũng cần phải chứa đựng hàm lượng trí tuệ
cao. Trong thế ứng xử hiện nay, bản lĩnh của một nền văn hoá không thể có thế
mạnh, nếu không có sự gia tăng về hàm lượng trí tuệ.
Để bản lĩnh
văn hoá Việt Nam mang tầm thời đại, chúng ta không thể không nâng cao hàm lượng
trí tuệ cho nó. Nâng cao hàm lượng trí tuệ trong xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt
Nam phải bắt đầu từ giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí. Chất lượng và hiệu quả
của việc nâng cao dân trí sẽ đem lại cho con người Việt Nam khả năng phân biệt
được cái giá trị, cái phản giá trị; cái cần tiếp thu, cái không cần tiếp thu của
văn hoá ngoại lai. Trên cơ sở nâng cao trình độ khoa học về mọi mặt, họ sẽ tự
khẳng định được tính chủ thể và bản lĩnh của một chủ thể văn hoá tích cực, nhờ
đó bản lĩnh văn hoá Việt Nam trở nên thực sự vững vàng trong thế ứng xử với xu
thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện nay. V.I.Lênin đã nói: “Chừng nào người ta
chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp
này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và
những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì
trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người ta lừa bịp và tự
lừa bịp mình về chính trị”[1].
Xây dựng bản
lĩnh văn hoá Việt Nam trong thế ứng xử hiện nay phải tạo thế chủ động trong phát
triển văn hoá và trong giao lưu, hội nhập. Xu thế giao lưu, hội nhập có tính
chất toàn cầu hiện nay là quy luật phát triển của nhân loại và của từng dân tộc.
Một nền văn hoá có bản lĩnh không thể ở thế bị động trong xu thế giao lưu, hội
nhập với các nền văn hoá khác. Tạo thế chủ động trong xây dựng bản lĩnh nền văn
hoá Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ bản sắc dân tộc và sự phát
triển của văn hoá Việt Nam. Yêu cầu đó đòi hỏi phải có sự kết hợp một cách hợp
lý giữa chiến lược phát triển lâu dài với chủ trương, biện pháp trước mắt. Quá
trình giao lưu, hội nhập trong xu thế hiện nay luôn đòi hỏi chúng ta phải bảo
đảm sự hài hoà giữa giữ vững nguyên tắc với phát huy tính chủ động, sáng tạo của
mỗi chủ thể ở các cấp độ khác nhau. Tính nguyên tắc trong việc giữ vững bản sắc
văn hoá dân tộc để không trở thành bản sao văn hoá của dân tộc khác là quán
triệt quan điểm giai cấp của Đảng, tạo thế chủ động và tích cực tham gia vào xu
thế chung hiện nay, đồng thời cần khắc phục tâm lý lo ngại hoặc tham gia giao
lưu, hội nhập một cách vô nguyên tắc.
Trước những
yêu cầu ngày càng cao của dân tộc và thời đại, mà trực tiếp là trong xu thế giao
lưu, hội nhập hiện nay, xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam vững vàng là vấn đề
có tính sống còn trong việc bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Ý thức
sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng ta xác định, phát triển văn hoá với
tư cách nền tảng tinh thần của xã hội, cho nên, cần “Tiếp tục phát triển sâu
rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc… Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá…, đặc biệt là lý tưởng
sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt
Nam”[2].
Tư tưởng chỉ đạo này cần được quán triệt sâu rộng và đi vào phong trào quần
chúng để mỗi con người, mỗi tổ chức và cả dân tộc ta luôn là chủ thể văn hoá có
bản lĩnh vững vàng trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện
nay.
[1] V.I.Lênin. Toàn
tập, t.23. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980,
tr.57.
[2] Đảng
Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Nxb CTQG, Hà Nội, 2006,
tr.106.