TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NĂM 1945, GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI
17:10
Ngày
2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Trong
suốt chiều dài lịch sử 65 năm qua, Tuyên ngôn
Độc lập vẫn như ngày nào, vang vọng khắp non sông, là ngọn cờ chiến đấu đầy khí
phách của dân tộc ta trong thời đại mới. Bản Tuyên ngôn
bất hủ này mãi đi cùng lịch sử dân tộc Việt Nam ta không chỉ với tư cách một áng
văn lập quốc vĩ đại, một kiệt tác về tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
mà còn với tư cách là bản tổng kết những giá trị tinh thần của cuộc đấu tranh
giành độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc ta, nhân dân ta; đồng thời cũng là
lời Tuyên ngôn mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Việt
Nam.
Khẳng định các
quyền cơ bản của con người: Tuyên ngôn
độc lập là lời tuyên bố về quyền lựa chọn con đường độc lập, tự do của mỗi dân
tộc, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[1],
và quyền được sống, được tồn tại, được mưu cầu hạnh phúc của mỗi dân tộc, con
người: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được
tự do và bình đẳng về quyền lợi”, “đó là những lẽ phải không ai chối cãi
được”[2].
Điều này khác với độc lập dân tộc giành được theo con đường cách mạng dân chủ tư
sản, ở đây, độc lập dân tộc gắn liền với lợi ích của nhân dân lao
động.
Là
sự khẳng định quyền bất khả xâm phạm của dân tộc:
Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam mới chính là sự kế thừa có sáng tạo để nâng
lên tầm cao mới quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc – “Toàn vẹn lãnh
thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”[3].
Vì những quyền thiêng liêng nhất ấy mà cả dân tộc ta, hết thảy mọi người dân
nước Việt “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”[4] và
cho “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, dân tộc Việt Nam cũng “kiên quyết
giành cho được độc lập”, cũng quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc, quyết tâm thực
hiện bằng được độc lập, thống nhất trọn vẹn cho dân tộc, cho đất nước, thực hiện
quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới, khẳng
định quyền thực sự làm chủ đất nước của mọi người dân nước Việt và nêu cao tinh
thần bất khuất, quật cường, không bao giờ cam tâm làm nô lệ của dân tộc ta, nhân
dân ta.
Khẳng định ý
chí, bản lĩnh, trí tuệ của con người, dân tộc Việt Nam: Tuyên ngôn độc lập của nước
Việt Nam mới còn thể hiện sâu sắc truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý
thức cộng đồng, ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường mà dân tộc ta đã hun đúc
nên qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Trong suốt chiều dài lịch
sử đó, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã không phải một lần đối đầu với
những thách thức khốc liệt và phải tự mình lựa chọn hoặc là “thà hy sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, chấp nhận hy
sinh, mất mát cho dù có to lớn đến đâu chăng nữa, kể cả tính mạng, xương máu, kể
cả phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” để giữ vững quyền tự do, độc lập cho dân
tộc, hoặc là chịu sự đồng hóa, nô dịch để rồi đi đến chỗ diệt
vong.
Lịch sử đã
chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đoàn
kết, anh dũng nhất tề đứng dậy giành chính quyền, “đánh đổ các xiềng xích thực
dân gần 100 năm… để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”, “đánh đổ chế độ quân
chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”[5].
Bởi vậy, nước Việt Nam mới (VNDCCH) hoàn toàn có quyền “tuyên bố thoát ly hẳn
quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt
Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Và, thế giới
“quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”, bởi “một dân
tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm…, một dân tộc đã gan góc đứng
về phe Đồng minh chống phát xít…, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải
được độc lập!”[6].
Chính vì thế,
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự
do độc lập”. Rằng, “toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[7].
Bản tuyên ngôn này khẳng định nền độc lập, tự do của dân tộc là điều kiện đầu
tiên, bao trùm và tiên quyết cho việc tạo dựng các quyền tự do, dân chủ, quyền
bình đẳng và mưu sinh, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân ta.
Mở
ra một kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:
Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam mới đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử
nhân loại đương đại – thời kỳ các nước thuộc địa và nửa thuộc địa vùng lên giành
độc lập, làm tan rã chế độ thực dân cũ, đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội theo
con đường quá độ. Đồng thời, khẳng định quyền dân tộc, đó là sự độc lập về chủ
quyền, sự thống nhất và toàn vẹn về lãnh thổ. Độc lập cho dân tộc mà Người khẳng
định ở đây là nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn của một dân tộc. Dân tộc đó
có đầy đủ chủ quyền quốc gia về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an
ninh… và toàn vẹn lãnh thổ.
Nền
độc lập đó phải được thực hiện một cách triệt để mà theo đó, nước Việt Nam là
của người Việt Nam, mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam phải do người
Việt Nam tự giải quyết. Nền độc lập đó chỉ có ý nghĩa và giá trị thực sự, khi nó
được thể hiện bằng quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân. Dân tộc được
độc lập, nhân dân được tự do, dân chủ và hạnh phúc, đồng bào ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành không chỉ là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định khi trịnh trọng tuyên bố với thế giới Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam
mới, mà còn là hoài bão, là lý tưởng, là ham muốn tột bậc, suốt đời của
Người.
Khẳng định tinh
thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam: Tuyên ngôn
độc lập của nước Việt Nam mới còn phản ánh tinh thần đoàn kết, đồng tâm, nhất
trí, cố kết dân tộc để tạo nên sức mạnh cộng đồng và khát vọng vươn tới tự khẳng
định mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia có chủ quyền với lòng tự tôn, tự
hào chính đáng... đã trở thành một giá trị tinh thần mang sức mạnh vật chất, có
sức lôi cuốn, cổ vũ và nuôi dưỡng các thế hệ người Việt Nam kế tiếp nhau, dù
trong máu lửa, đạn bom, dù có phải hy sinh cả tính mạng vẫn không chịu đánh mất
mình với tư cách một dân tộc độc lập, không chấp nhận “trở thành cái bóng mờ của
người khác, của dân tộc khác”. Tinh thần, khí phách không những không hề bị mai
một, mà càng được tôi luyện, hun đúc và nhân lên sức mạnh vốn có của nó một cách
mạnh mẽ, nhờ đó, chúng ta đã “dựng nên nước Việt Nam độc lập”, “lập nên chế độ
Dân chủ Cộng hòa”.
Vạch trần bản
chất của chủ nghĩa thực dân. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã bóc trần bộ mặt giả nhân, giả nghĩa, hành động “trái hẳn với nhân
đạo và chính nghĩa” của những kẻ nhân danh “lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái” để
áp bức, bóc lột các dân tộc khác, can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của
nước khác. Đây là vấn đề mang tính thời sự nóng hổi, khi mà giờ đây, các thế lực
phản động quốc tế vẫn tiếp tục chiêu bài cũ và nhân danh quyền con người, ủng hộ
dân chủ để thực hiện âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”, can thiệp thô bạo
và tinh vi vào công việc nội bộ của các quốc gia dân tộc đang trên con đường
phát triển trong độc lập, tự chủ. Chính vì vậy mà giờ đây, đối với chúng ta,
khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và bình đẳng, tiến bộ và công bằng
xã hội mà Tuyên ngôn độc lập đã trịnh trọng tuyên bố lại càng trở nên nóng bỏng
hơn bao giờ hết.
Là nền tảng
chính trị - pháp lý của nước Việt Nam mới. Trên bình
diện quốc gia cũng như trên bình diện quốc tế. Các quyền dân tộc cơ bản, quyền
con người thiêng liêng, bất khả xâm phạm được tuyên bố trong Tuyên ngôn độc lập
không chỉ là những giá trị bất hủ dành riêng cho dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt
Nam, mà còn là những giá trị bất hủ dành cho mọi dân tộc, cho cả nhân loại.
Hướng đến các quyền đó là xu thế tất yếu của mọi dân tộc, của tất cả mọi người
trong cộng đồng nhân loại ở thời đại ngày nay.
Tuyên
ngôn độc lập của nước Việt Nam mới còn là một kiệt tác về tư tưởng, lý luận của
Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, nhà
hiền triết của thời đại chúng ta. Không chỉ thế, Tuyên ngôn này còn thể hiện
tình cảm yêu nước nồng nàn, lòng tự hào với truyền thống anh hùng, bất khuất của
dân tộc Việt Nam vốn đã in đậm dấu ấn ở Hồ Chí Minh. Ý chí sắt đá trong bản hùng
văn này, độ nhạy cảm, tinh tế về chính trị, sự am hiểu sâu sắc về nền văn hóa
dân tộc và văn hóa thế giới, tính nhân đạo và nhân văn trong lối sống, trong
phong cách ứng xử, cộng với trí tuệ sắc sảo trong tư duy và tài hành văn, sử
dụng ngôn ngữ tiếng Việt đến độ tinh tế, trong sáng và uyển chuyển của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn độc lập quyền mãi trường tồn cùng thời
gian không chỉ với tư cách một văn bản chính trị, một bản Tuyên ngôn lập quốc,
mà còn với tư cách nỗi niềm sâu lắng của một dân tộc mới hồi sinh và thực sự đã
hồi sinh, là tiếng nói từ đáy lòng của một anh hùng dân tộc suốt đời phấn đấu,
hy sinh cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân.
[1] Hồ
Chí Minh. Toàn tập, t. 4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.
1.
[2] Hồ
Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 1.
[3] Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 469.
[4] Hồ
Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 480.
[5] Hồ
Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 3.
[6] Hồ
Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 3.
[7] Hồ
Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 4.