TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
07:36
Sinh thời Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định việc liên hệ, gắn bó mật thiết với nhân dân là
nguồn gốc chủ yếu tạo nên sức mạnh và là một trong những điều kiện, nguyên nhân
làm cho Đảng ta giữ vững được quyền lãnh đạo cũng như giành được thắng lợi trong
quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vì vậy, liên hệ gắn bó mật thiết với dân
là một yêu cầu khách quan, cũng là một biện pháp quan trọng nhằm tǎng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng. Người dạy: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được.
Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”[1],
cho nên “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến
của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng ta thắng lợi.
Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng
lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”[2].
Để
giải quyết tốt mối quan hệ này, theo Người, chúng ta cần phải nhận thức và thực
hiện tốt các vấn đề cơ bản sau:
Thứ
nhất, “ngoài
lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì
khác”[3]
Cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng, mọi thành quả cách mạng thuộc về nhân dân, vì
thế, tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng, của Chính phủ đều
chỉ nhằm một mục đích là nâng cao đời sống của nhân dân nói chung. Hồ Chí Minh
khẳng định: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải
hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”[4]. Như
vậy, mục đích tồn tại của Đảng không phải để thống trị nhân dân, để hưởng
thụ bổng lộc mà mục đích là để phục vụ tổ quốc, mưu lợi cho đồng bào. Toàn Đảng
cũng như mỗi đảng viên phải đặt lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc
lên trên lợi ích cá nhân. Độc lập cho dân tộc, giàu mạnh cho đất nước, hạnh phúc
cho đồng bào là thước đo đánh giá một đảng cách mạng chân
chính. Giành
độc lập dân tộc cũng là cho nhân dân, nhưng đó mới chỉ là tiền đề, là cơ sở còn
mục đích cao cả cuối cùng là phải làm cho dân no, dân ấm, dân hạnh phúc, dân
sống tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội, sống hòa bình với tất cả các dân tộc
khác. Đây là cơ sở quan trọng để khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội
tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”[5].
Thứ
hai, Đảng
phải không ngừng rèn luyện để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân”[6]
Trong
mối quan hệ Đảng – nhân dân, nếu Đảng là người lãnh đạo thì nhân dân là đối
tượng lãnh đạo, chịu sự lãnh đạo và trong mọi thời kỳ cách mạng đều cần có sự
lãnh đạo vững vàng của Đảng. Đảng lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân là vì
nhân dân. Vì nhân dân chính là điểm xuất phát, nội dung, mục tiêu phấn đấu của
Đảng ta. Khi Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở
cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng phải luôn luôn nhớ rằng mình là đầy tớ của
nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân. Là người lãnh
đạo, Đảng xác định phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ, đề ra đường lối, chủ trương,
phương pháp tổ chức thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó. Không chỉ là người lãnh
đạo, Đảng còn là “đầy tớ” của nhân dân, Hồ Chí Minh đã nói các cơ quan Đảng và
Nhà nước là “đầy tớ” của nhân dân, nhưng cũng có lần Người gọi các cơ quan đó là
“công bộc” của nhân dân. Công bộc cũng là đầy tớ, đầy tớ chung của mọi người,
phục vụ chung cho nhân dân. Trong mối quan hệ Đảng – nhân dân, nhân dân là chủ
cũng có nghĩa Đảng là đầy tớ của nhân dân.
Nhân dân là
chủ, Đảng là đầy tớ nghĩa là Đảng phải trung thành và tận tuỵ phục vụ nhân dân.
Trong vai trò của Đảng đối với dân, cái chung của người lãnh đạo và của người
đầy tớ là vì nhân dân, phục vụ nhân dân. Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh đã đồng
nhất vai trò Đảng là người lãnh đạo với Đảng là người đầy tớ của nhân dân: “Đảng
ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến
tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy
tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân
dân; đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng
chính sách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng”[7].
Đảng là người lãnh đạo, Đảng “không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến
mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động
Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân
dân”[8].
Mọi chính sách của Đảng, Chính phủ, cũng như các cơ quan và cán bộ của Đảng,
Chính phủ từ trên xuống dưới đều phải có trách nhiệm “hết sức chǎm nom đến đời
sống của nhân dân”. Người chỉ rõ: “Đảng
cần phải có kế
hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không
ngừng nâng cao đời sống của
nhân dân”[9], phải
giúp cho nhân dân hiểu rõ quyền lợi phải gắn liền với nghĩa vụ cao cả thiêng
liêng của mình để xây dựng chế độ đất nước, chế độ của mình.
Thứ
ba, Đảng cần “phải học dân
chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng”[10]
Hồ
Chí Minh khẳng định: Dân chúng rất
khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Cho nên, Người
luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải luôn gần gũi, gắn bó với dân,
không được xa dân. Gần dân không chỉ về không gian, tình cảm, về tinh thần thái
độ mà ngay cả về đời sống sinh hoạt hàng ngày. Bởi
vì, trước hết Đảng ra đời từ trong lòng quần chúng nhân dân, hơn nữa Đảng phải
gắn bó với dân thì dân mới tin theo Đảng và Đảng mới lãnh đạo được nhân dân. Gắn
bó với dân còn giúp Đảng nắm bắt được tâm tư, nguyên vọng của dân, tiếp thu được
tính sáng tạo vô tận của nhân dân để đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn hợp
với ý Đảng, lòng dân. Người
dạy: “Đối với
nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình
mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự
cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân... Phải tôn kính
dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được
dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”[11],
“phải làm gương mẫu cho mọi người noi theo trong mọi mặt công tác”[12],
“đưa mọi vấn
đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì
thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không
hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ
và tổ chức của ta”... Mối
quan hệ này tỉ lệ thuận với sự bền vững của chế độ mới mà Đảng và nhân dân chủ
trương xây dựng.
Thứ
tư, “Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường
xuyên”[13] trong bộ máy
của Đảng và nhà nước
Hồ Chí Minh
cho rằng: bệnh quan liêu, tham ô, hối lộ, tham nhũng là những cǎn bệnh đặc biệt
nguy hiểm, nó là kẻ thù của nhân dân, làm cho dân xa Đảng, làm suy yếu vai trò,
khả nǎng lãnh đạo của Đảng. Để
nhấn mạnh tính chất nghiêm trọng của bệnh tham ô, lãng
phí, Người kết
luận: “Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy
của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có
khi tai hại hơn nạn tham ô... Tham
ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính
phủ. Kẻ
thù khá nguy hiểm, vì
nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng
công việc của ta. Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng
là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì
nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần
trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta
là cần, kiệm, liêm, chính”[14].
Nguyên
nhân của cǎn bênh trên là do xa dân, không hiểu dân, khinh dân cho là “dân ngu
khu đen”, do sợ dân vì bản thân mình có khuyết điểm; không tin dân không hiểu
biết nhân dân; không yêu thương nhân dân, chỉ biết đòi hỏi dân mà không biết
nâng đỡ, giúp dân... Muốn chữa được bệnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải: Đặt
lợi ích nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn
với nhân dân, giải thích trước nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà phê
bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi
nhân dân; tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm, liêm chính để nhân dân noi theo”;
giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Đó là thang thuốc chữa bệnh quan liêu và bệnh cá nhân
chủ nghĩa... có như vậy, Đảng cầm quyền mới vững mạnh hơn, nhân dân gắn bó chặt
chẽ với Đảng hơn.
Mối
quan hệ giữa Đảng với nhân dân là cơ bản, là trục chính, là xương sống của cơ
thể xã hội nước ta từ khi có Đảng, đặc biệt là từ khi trở thành Đảng cầm quyền.
Củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân là một
vấn đề vừa có ý nghĩa thiết thực cấp bách lại vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài,
là điều kiện cơ bản đảm bảo thắng lợi sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do
Đảng lãnh đạo. Từ thực tiễn phong phú của cách mạng,
trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển
năm 2011), Đảng ta đã
rút ra bài học kinh nghiệm: “sự
nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân. Chính
nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng
phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của
Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân
dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế
độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”[15].
Và khẳng định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ
thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân
dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[16].
Do
đó, để củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với nhân dân hiện nay
chúng ta cần phải: Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng; mọi đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng của
nhân dân, đem lại lợi ích thực tế cho các tầng lớp nhân dân; không ngừng phát
huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân lao động trong các lĩnh
vực đời sống xã hội theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”;
không ngừng đẩy mạnh công tác dân vận, tăng cường khối đại đoàn kết toàn
dân; đẩy mạnh công
tác dân vận, tǎng cường khối đại đoàn kết toàn dân; kiên
quyết ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là tệ tham nhũng, quan liêu;
Đảng phải thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn để ngày càng trong sạch, vững
mạnh... đây là những yếu tố cơ bản để gắn bó chặt chẽ mối quan hệ máu thịt giữa
Đảng với nhân dân.
Sự
thành công của công cuộc đổi mới hơn 20 nǎm qua đã khẳng định vai trò to lớn của
Đảng trong việc chèo lái con thuyền cách mạng nước ta vượt qua những khó khǎn
thử thách, giữ vững sự lãnh đạo của mình, đồng thời cũng khẳng định vai trò to
lớn của nhân dân. Quan hệ Đảng và nhân dân đã được củng cố. Song cách mạng nước
ta đã chuyển sang giai đoạn mới, tình hình đã thay đổi nhiều so với trước đây.
Nhiều vấn đề mới đang đặt ra liên quan mật thiết tới mối quan hệ giữa Đảng và
dân cần phải được tiếp tục nghiên cứu, cần được cấp uỷ Đảng, chính quyền và đoàn
thể nhân dân các cấp vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể nhằm đáp ứng yếu cầu
của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
[1] Hồ Chí
Minh. Toàn tập, tập 5,
Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.293.
[2] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.5, tr.286.
[3] Hồ Chí
Minh, Sđd., t.10, tr.4.
[4] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.4, tr.47.
[5] Đảng Cộng
sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011,
tr.88.
[6] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.12, tr.519.
[7] Hồ
Chí Minh. Sđd., t
10, tr.323.
[8] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.6, tr.185.
[9] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.12, tr.511.
[10] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.5, tr.293.
[11] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.5, tr.55.
[12] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.10, tr.161.
[13] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.10, tr.575.
[14] Hồ Chí
Minh. Sđd., t.6, tr.489-490.
[15] Đảng Cộng
sản Việt Nam. Sđd., tr.65.
[16] Đảng Cộng
sản Việt Nam. Sđd., tr.89.