TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ VÀO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH THIẾU NIÊN-GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
03:19
Đầu tư vào
trẻ vị thành niên và thanh thiếu niên (Liên Hiệp Quốc định nghĩa “trẻ vị thành
niên” là người tuổi từ 10 đến 19; và “thanh thiếu niên” là người ở độ tuổi
14-20) có thể giúp đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến chống đói nghèo, HIV/AIDS, giảm
chênh lệch về kinh tế, xã hội và phân biệt về giới. Khi vị thành niên và thanh
thiếu niên không được thực hiện các quyền về giáo dục có chất lượng, chăm sóc
sức khỏe, bảo vệ, tham gia và có việc làm tốt, sẽ kéo dài thêm vòng luẩn quẩn
của đói nghèo và bị loại trừ, điều này sẽ tước đi của họ những cơ hội để có thể
phát triển đầy đủ năng lực của mình, được khỏe mạnh và trở thành thành viên hữu
ích cho xã hội.
Theo đại diện
UNICEF tại Việt Nam, khoảng 503.400 trẻ em và thanh thiếu niên dưới 15 tuổi tại
VN phải tham gia vào các hoạt động kinh tế yêu cầu sức làm việc cao. (Ảnh minh
họa)
Một số thách
thức chính đối với vị thành niên và thanh niên Việt Nam
Việt Nam là một
quốc gia “trẻ” về mặt dân số, với khoảng 26.7 triệu thanh thiếu niên tuổi từ 10
đến 24, chiếm khoảng 1/3 dân số, và hiện tại, 43% dân số Việt Nam ở độ tuổi dưới
24, với 18% ở độ tuổi từ 15-24[1],
lực lượng này đang phải đối mặt với nhiều thách thức bao gồm kinh tế không đảm
bảo, HIV/AIDS, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, di cư và đô thị hóa
nhanh. Các thách thức này sẽ lớn hơn trong thập kỷ tới, do đó họ cần phải được
trang bị các kỹ năng và kiến thức để vượt qua thách thức này. Cụ
thể:
Đối với vấn đề
việc làm và đào tạo: ở Việt Nam, dân số trẻ chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong lực
lượng lao động vào thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai, hiện tỷ lệ nam
nữ trong độ tuổi từ 15 đến 19 tham gia vào lực lượng lao động tăng từ 37,1% năm
2007 lên 43,8% năm 2009 cho thấy con số thanh thiếu niên bỏ học tương đối sớm để
tìm việc làm ngày càng cao[2].
Dường như ngày càng nhiều thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 24 làm các công
việc không phù hợp với chuyên môn của họ do hai nguyên nhân chính: hoặc là không
có việc làm phù hợp với trình độ học vấn của họ hoặc là họ ít kinh nghiệm làm
việc mà công việc đòi hỏi những người lớn tuổi. Năm 2009, với tỷ lệ thất nghiệp
6,2% và tỷ lệ thiếu việc làm 6,8%, nam nữ thanh niên Việt Nam chiếm gần 56% tỷ
lệ người thất nghiệp[3].
Tuy nhiên vẫn
tồn tại một nghịch lý là tỷ lệ thanh niên Việt Nam có việc làm vẫn nghèo cao hơn
tỷ lệ người lớn tuổi có việc làm vẫn nghèo là trên 50%. Điều này chứng tỏ thanh
niên rơi vào tình cảnh bất lợi hơn những người trưởng thành, không những thể
hiện ở tỷ lệ thất nghiệp cao hơn mà còn thể hiện ở nguy cơ rơi vào nhóm những
người có việc làm vần nghèo cao hơn. Số liệu về việc làm thu được từ Điều tra
Dân số và Nhà ở năm 2009 cho thấy tỷ lệ thanh niên tham gia vào lực lượng lao
động biến động rất lớn theo khu vực địa lý, trong khi tỷ lệ thanh niên có việc
làm ở các khu vực Miền núi và phía bắc là gần 80% thì tỷ lệ thanh niên có việc
làm ở vùng châu thổ Sông Hồng sụt giảm xuống mức chỉ khoảng
50%.
Đối
với công tác bảo vệ: ước tính 5,8% phụ nữ trẻ đã hoặc đang có gia đình ở độ tuổi
15-24 ở Việt Nam từng bị chồng đánh đập[4] và
trong số những trẻ em bỏ nhà đi, hầu hết là do muốn tránh khỏi bạo lực gia
đình[5].
Theo Bộ LĐ-TB&XH, vài năm trở lại đây, số trẻ em bị xâm phạm tình dục (XPTD)
liên tục gia tăng, từ 200 em năm 2005 tăng lên 833 em năm 2009 và ước tính năm
2010 là 900 em. Đây là số trẻ em bị XPTD được trình báo. Trên thực tế, con số
này có thể còn cao hơn do công tác quản lý, nắm tình hình chưa chặt chẽ; nhiều
vụ XPTD trẻ em bị che giấu do tâm lý mặc cảm của gia đình nạn nhân, sợ ảnh hưởng
đến tương lai của trẻ hoặc không tố giác do có sự thỏa thuận bồi thường giữa hai
bên...
Địa
bàn xảy ra nhiều vụ XPTD trẻ em là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, rồi đến Đông
Nam bộ. Địa phương xảy ra nhiều trẻ em bị XPTD là Hà Nội, Quảng Ninh, Gia Lai,
Đắc Lắc, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang. Đối tượng phạm
tội phần lớn là người gần gũi với nạn nhân (chiếm 56,1%). Một số vụ XPTD trẻ em
có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Tình trạng loạn luân (bố đẻ XPTD với con gái
chiếm 0,6%, bố dượng XPTD với con riêng của vợ chiếm 1%) tuy tỷ lệ thấp nhưng
cũng ảnh hưởng lớn đến truyền thống đạo đức gia đình và an toàn xã hội[6].
Nạn buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và các sản phẩm khiêu dâm trẻ em hiện đang
lan rộng. Các báo cáo chính thức tại Hà Nội, Tiền Giang, Cần Thơ và TP Hồ Chí
Minh cho thấy hiện tượng phụ nữ hành nghề mại dâm ở nhóm trẻ tuổi ngày một gia
tăng, và 2% lao động tình dục là người chưa thành niên.
Hiện có khoảng
503.400 trẻ em và thanh thiếu niên dưới 15 tuổi tại Việt Nam phải tham gia vào
các hoạt động kinh tế yêu cầu sức làm việc cao và 633.400 trẻ em phải làm việc
nhiều giờ mỗi ngày[7].
Trong đó, trẻ em ở khu vực nông thôn, trẻ em ở lứa tuổi lớn hơn, trẻ em dân tộc
thiểu số và trẻ em không được đến trường là những nhóm có nhiều nguy cơ phải lao
động hơn so với các nhóm trẻ em khác. Và hiện còn thiếu nghiêm trọng số lượng
cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp để thực hiện chăm sóc và hỗ trợ thanh thiếu
niên đang phải gánh chịu hoặc có nguy cơ bị xâm hại, lạm dụng và bóc lột, cũng
như những thanh thiếu niên cần được chăm sóc bảo vệ đặc biệt.
Tình hình người
chưa thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội ở nước ta hiện nay vẫn có xu hướng
gia tăng và diễn biến phức tạp. Đặc biệt có một bộ phận thanh thiếu niên đã tham
gia vào các băng nhóm tội phạm có tổ chức, phạm tội có sử dụng bạo lực với tính
chất côn đồ hung hãn; thực hiện các hành vi giết người, cướp của, chống người
thi hành công vụ, bảo kê, đâm thuê, chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm
trọng. Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã
hội (Bộ Công an) thì trong 6 tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 5.746 vụ, với khoảng
9.000 người người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự, tăng
2% số vụ so với cùng kỳ năm 2007[8].
Năm 2009, Bộ Tư pháp cho biết có 15.589 trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật. Về
độ tuổi, theo thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội thì
tình hình tội phạm do người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực
hiện có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60%; từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi chiếm khoảng 32% và dưới 14 tuổi chiếm khoảng 8% trong tổng số
các vụ phạm tội do người chưa thành niên và trẻ em thực hiện.
Khoảng 283.700
trẻ em và trẻ vị thành niên từ 0-15 tuổi bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nhiều trong
số này đối mặt với nguy cơ lây nhiễm HIV. Tuy nhiên, theo điều tra quốc gia lần
thứ 2 về thanh niên và vị thành niên việt Nam (SAVY II)[9],
chỉ có 42,5% thanh niên trong độ tuổi 15-24 có hiểu biết toàn diện về đường lây
truyền HIV so với mục tiêu quốc gia là 95% trong năm 2010. Bên cạnh đó, cũng
theo SAVY II, thanh thiếu niên ở độ tuổi 15-24 chiếm đa số lượng người di cư ở
Việt Nam, chủ yếu là di cư đến các khu vực thành thị và phần lớn trong số này là
nữ. Điều này đã góp một phần quan trọng thúc đẩy sự gia tăng dân số đô thị trong
những năm gần đây.
Đối
với vấn đề giáo dục: Tỷ lệ biết chữ ở người từ 15 tuổi trở lên tăng từ 90% năm
1999 lên 93,5% năm 2009. Khoảng cách biết chữ giữa nam và nữ cũng đã được thu
hẹp. Năm 2009 có 95,8% nam từ 15 tuổi trở lên có thể đọc thông viết thạo và hiểu
tiếng Việt hoặc một thứ tiếng nước ngoài hoặc một tiếng dân tộc thiểu số
khác[10] so
với 91,3% nữ ở cùng độ tuổi. Năm 2009, tỷ lệ biết chữ ở thanh niên là 97,1% và
sự chênh lệch giữa nam và nữ là 0,6%. Vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ thanh
niên biết chữ cao nhất, 99, 2% và chênh lệch giữa nam, nữ biết chữ là rất nhỏ.
Ngược lại, vùng trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ biết chữ
thấp nhất, 91,2% và chênh lệch giữa nam, nữ biết chữ ở khu vực này là cao
nhất[11].
Về
vấn đề di cư: Hiện tượng di cư ở thanh niên là một phần quan trọng của quá trình
đô thị hóa đang diễn ra ngày một nhanh chóng ở Việt Nam, trên 1/3 (38%) thanh
niên tham gia trả lời khảo sát của SAVY II đã từng sống xa gia đình liên tục
trong 1 tháng hoặc lâu hơn, hầu hết những người này sống xa gia đình để “kiếm
sống” hoặc “đi học’. Nam thanh niên di cư đến địa phương khác để kiếm sống nhiều
hơn nữ thanh thiếu niên, và thanh niên khu vực nông thôn di cư nhiều hơn so với
thanh thiếu niên ở thành thị. Thanh thiếu niên ở độ tuổi 15-24 chiếm đa số trong
lượng người di cư ở Việt Nam, và phần lớn trong các em này là nữ. Hiện tượng di
cư này ở thanh thiếu niên không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc tuổi và giới của dân
số ở các cấp khu vực và cấp tỉnh, mà còn góp phần đáng kể vào quá trình đô thị
hóa đang tiếp diễn hiện nay. Lực lượng dân di cư này cũng đóng một vai trò quan
trọng đối với sự gia tăng của đô thị trong thập kỷ qua.
Vấn đề sức
khỏe: Theo kết quả điều tra của SAVY II, các vấn đề sức khỏe hiện tại/mãn tính
phổ biến nhất đối với thanh niên là bệnh tim mạch (21,8%), các bệnh về tiêu hóa
(20,4%), hen suyễn (3,4%), các vấn đề về thị lực (3,3%), các bệnh liên quan đến
đường hô hấp khác (0,7%); Tỷ lệ nạo phá thai ở vị
thành niên là 2,2% trong tổng số các ca nạo phá thai năm 2010 (theo Báo cáo về
sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế năm 2010). Trong khi đó, khoảng 1/3 thanh niên và
vị thành niên Việt Nam còn gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ tư vấn và
chăm sóc sức khỏe sinh sản. Theo thống kê của Hội Kế hoạch
hóa gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế
giới (1,2-1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên, thậm
chí có em mới... 12 tuổi và 7,6% trong độ tuổi này có quan hệ tình dục trước hôn
nhân. Đó là chưa kể tới rất nhiều ca nạo phá thai tại những cơ sở y tế tư nhân
nhưng không thể kiểm soát và thống kê được[12].
Đầu tư vào trẻ
vị thành niên và thanh thiếu niên là cấp thiết
Trước
hết, đầu
tư vào trẻ vị thành niên và thanh thiếu niên là một việc làm phù hợp với nguyên
tắc của Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em, áp dụng cho mọi đối tượng trẻ
vị thành niên dưới 18 tuổi, và Công ước về xóa bỏ mọi hình thức Bạo lực đối với
Phụ nữ, áp dụng cho mọi trẻ em gái vị thành niên. Để thực hiện cam kết đối với
trẻ em và thanh thiếu niên theo các công ước này và để nghiêm túc thực hiện cam
kết của Việt Nam đối với Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trước thời hạn 2015,
chúng ta cần phải đưa vấn đề an sinh và quyền của trẻ vị thành niên trở thành
một phần không thể thiếu của các chương trình nghị sự.
Thứ
hai, đây
là cách hiệu quả nhất nhằm củng cố những kết quả đã đạt được có tính lịch sử cho
trẻ em ở Việt Nam trong những năm đầu đời (từ 0 đến 4 tuổi) kể từ năm 1990, với
tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi giảm một nửa từ năm 1990 và
2006, gần như xóa bỏ hoàn toàn chênh lệch về giới trong tỷ lệ nhập học cấp tiểu
học ở một số tỉnh, và những cải thiện đáng kể trong khả năng tiếp cận giáo dục
tiểu học, nước sạch, tiêm chủng định kỳ và những loại thuốc thiết yếu như ARV
trong điều trị HIV.
Thứ
ba, đầu tư vào trẻ vị thành niên và thanh thiếu niên có thể
giúp đẩy nhanh cuộc đấu tranh chống đói nghèo, HIV/AIDS, bất bình đẳng về kinh
tế-xã hội và phân biệt đối xử giới. Bất bình đẳng thường bộc lộ rất rõ ràng ở
tuổi vị thành niên: trẻ em nghèo hoặc sống bên lề xã hội ít có khả năng được học
lên cấp trung học và nhiều khả năng phải trải qua những sự lạm dụng như: tảo
hôn, tình dục sớm, bạo lực và lao động giúp việc gia đình-đặc biệt là đối với
các em gái. Việc chối bỏ quyền của trẻ vị thành niên được giáo dục và được chăm
sóc sức khỏe một cách có chất lượng, được bảo vệ và được tham gia sẽ kéo dài mãi
cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói và tình trạng bị gạt ra ngoài lề đã tước đi của
họ cơ hội được phát triển tối đa tiềm năng của mình.
Thứ
tư, đầu
tư vào vị thành niên và thanh thiếu niên sẽ giúp tăng cường các nỗ lực của chúng
ta nhằm giải quyết các thách thức lớn của thời đại: biến đổi khí hậu, bất ổn
định kinh tế, đô thị hóa và di cư bùng nổ. Để có thể giải quyết hiệu quả các hậu
quả qua nhiều thế hệ của những thách thức này, trẻ vị thành niên và thanh thiếu
niên cần phải được đối xử như những đối tác bình đẳng và cần được trang bị những
kỹ năng, năng lực và hiểu biết phù hợp.
Thứ
năm, mặc
dù trẻ vị thành niên thường được gọi là “thế hệ tương lai”, nhưng chúng ta không
nên quên rằng đây cũng là một phần đáng kể của thế hệ các công dân toàn cầu hiện
đại-đang sống, lao động và đóng góp cho các gia đình, cộng đồng, xã hội và nền
kinh tế. Do đó, lực lượng này xứng đáng được công nhận, được bảo vệ và chăm sóc,
được sử dụng các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu, được tạo cơ hội, được giúp
đỡ.
Thứ
sáu, thanh
thiếu niên đang đi tiên phong trong một số lĩnh vực quan trọng như phòng chống
HIV và bảo vệ môi trường, trong việc ứng dụng các công nghệ mới-để kết nối, sáng
tạo và lên tiếng kêu gọi thay đổi. Thanh thiếu niên cũng thách thức các chuẩn
mực truyền thống có tính lạc hậu…
Một số khuyến
nghị
Một
là, cần
có những thay đối cấp tiến trong mối quan hệ giữa người lớn và trẻ em, thanh
thiếu niên. Chính phủ cần có những đối thoại nhằm đạt được những hiểu biết chung
để chung sức giải quyết các thách thức phía trước, đồng thời cần đầu tư hơn nữa
vào việc phát triển các trung tâm văn hóa, thể thao, câu lạc bộ thanh thiếu niên
và cho các chương trình tình nguyện viên, nhằm cải thiện sự phát triển về mặt xã
hội của thanh thiếu niên.
Hai
là, tăng
cường củng cố các hệ thống bảo trợ xã hội, đồng thời cần trang bị năng lực cho
các dịch vụ xã hội và dịch vụ bảo trợ chuyên nghiệp để đáp ứng đầy đủ nhu cầu
của các đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên dễ bị tổn thương, thiết lập một “hệ
thống liên tục các dịch vụ” nhằm đảm bảo công tác bảo vệ và phúc lợi cho trẻ em
và thanh thiếu niên ở mọi thời điểm và ở tất cả các cấp. Xây dựng cơ chế rõ ràng
cho việc ngăn chặn, phát hiện sớm và xác định các đối tượng trẻ em dễ bị tổn
thương cũng như gia đình có nguy cơ. Nhanh chóng thiết lập một cơ quan chuyên
trách hoặc có quy trình riêng biệt cho công tác điều tra các khiếu kiện về lạm
dụng trẻ em và thanh thiến niên.
Ba
là, cần
phải nỗ lực hơn nữa trong việc xóa nạn mù chữ ở các tỉnh khó khăn thuộc khu vực
Trung du, miền núi phía Bắc, chú trong hơn nữa nhằm giảm chênh lệch về giới
trong tỷ lệ người biết chữ. Tăng cường đầu tư của xã hội vào giáo dục, đào tạo
và sức khỏe của thanh thiếu niên. Nhà trường cần tăng cường hơn nữa giáo dục kỹ
năng sống, kiến thức về giới tính, gia đình, phòng chống HIV/AIDS… một cách có
hệ thống thông qua chương trình chính khóa và ngoại khóa, đồng thời tạo điều
kiện tốt nhất để họ phát biểu ý kiến và tham gia vào quá trình học tập cũng như
quản lý nhà trường. Việc dạy nghề cần phải được cải thiện để giúp trang bị cho
thanh niên các kỹ năng chuyên nghiệp nhằm giúp họ có thể cạnh tranh hiệu quả
trên thị trường lao động.
Bốn
là, tăng
cường giáo dục nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về HIV, tư vấn, xét nghiệm
tự nguyện, trợ giúp pháp lý, chăm sóc sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản và
HIV; tạo ra môi trường an toàn và thân thiện cho thanh thiếu niên có nguy cơ lây
nhiễm HIV cao để giúp giảm bớt sự kỳ thị đang ngăn thanh thiếu niên không tiếp
cận được tới các dịch vụ về phòng chống HIV; cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn
về những nhóm thanh thiếu niên có nguy cơ lây nhiễm HIV cao để cung cấp các số
liệu và bằng chứng có chất lượng nhằm xây dựng các chương trình can thiệp có
hiệu quả cao hơn.
Năm
là, cần
nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của việc tạo khả năng tiếp cận đầy đủ
cho mọi người di cư với các dịch vụ xã hội, đặc biệt là các dịch vụ sinh sản.
Các chính sách phát triển đô thị cần khuyến khích cung cấp các dịch vụ xã hội có
chất lượng và cơ hội việc làm cho người di cư, đặc biệt, do nữ giới chiếm một tỷ
lệ lớn trong số thanh thiếu niên di cư, cho nên cần cung cấp cho đối tượng này
các dịch vụ sức khỏe sinh sản nhằm giúp bảo vệ họ trước nguy cơ không cần thiết
đối với sức khỏe.
Sáu
là, cần
thực hiện sự phối hợp tốt giữa các ngành, các bộ về những vấn đề chung đối với
thanh thiếu niên. Tăng cường số lượng và nâng cao năng lực của cán bộ y tế địa
phương (đặc biệt là vùng sâu vùng xa) trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản vị thành
niên. Việc cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản cần thân thiện với thanh niên hơn,
đặc biệt đối với HIV và các bệnh lây lan qua đường tình dục. Ngoài ra, cần sự hỗ
trợ của của các phương tiện thông tin đại
chúng để người lớn có cái nhìn toàn diện hơn về thanh
thiếu niên, tổ chức cho thanh niên tham gia những hoạt động của cộng đồng nhằm
xóa bỏ khoảng cách giữa thanh niên và người lớn, giáo dục cộng đồng hiểu về các
nhu cầu của thanh niên, những đóng góp tích cực của thanh niên với cộng đồng, và
các phương pháp giúp đỡ vị thành niên tốt hơn, qua đó cung cấp cho vị thanh niên
các kỹ năng cần thiết để có thể có đủ bản lãnh vững bước vào
đời.
Tuổi vị thành niên và thanh
thiếu niên là một trong những giai đoạn sôi nổi và có lẽ phức tạp nhất của cuộc
đời con người, thời điểm mà giới trẻ đảm nhận trách nhiệm mới và tự mình học
hỏi, thử nghiệm và khám phá. Họ đi tìm bản sắc riêng của mình, áp dụng những giá
trị đã được lĩnh hội từ thời thơ ấu, và phát triển thêm các kỹ năng mới để trở
thành những người lớn có trách nhiệm và biết quan tâm đến người khác. Khi được
giúp đỡ và động viên, họ sẽ phát triển tích cực và trở thành những thành viên có
năng lực với nhiều đóng góp cho gia đình và cộng đồng. Tràn trề khí thế, được
thôi thúc bởi lòng hiếu kỳ không dễ bị dập tắt, giới trẻ có khẳ năng thay đổi
những hành vi tiêu cực trong xã hội, bức phá vòng luẩn quẩn của sự xung đột và
phân biệt đối xử vốn đã ăn sâu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với sự sáng tạo
và lòng nhiệt tình của mình, giới trẻ có thể tạo ra nhiều thay đổi tích cực, đem
lại một xã hội tốt đẹp hơn cho bản thân và mọi người.
[1] Điều tra biến động
dân số năm 2007: Phát hiện chính,
GSO (Tổng Cục Thống Kê), 2008.
[2] Báo cáo các xu hướng
Việc làm tại Việt Nam, ILO (2010)
[3] Báo cáo các xu hướng
Việc làm tại Việt Nam, ILO năm 2010.
[4] Giang LM, Nguy cơ nhiễm HIV ở
nam thanh thiếu niên di cư sử dụng ma túy ở Hà Nội,
2006.
[5] Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch và các đơn vị khác (2008). Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm
2006.
[6] Quỳnh
Anh. Trẻ em bị xâm phạm
tình dục gia tăng: Trách nhiệm của gia đình - nhà trường - xã
hội, http://hanoimoi.com.vn, 01/03/2011.
[7] UNICEF. Phân tích
tình hình trẻ em Việt Nam năm 2010.
[8] TS. Đinh Xuân Nam. Thực trạng và giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20 (136), tháng 12/2008.
[9] Tổng số có 10.044
thanh thiếu niên ở độ tuổi 14-25 sống tại 63 tỉnh/thành phố ở Việt Nam tham gia
trả lời khảo sát trong Điều tra SAVY II.
[10] Định nghĩa về biết
chữ trong bộ câu hỏi của Điều tra Dân số và Nhà ở năm
2009.
[11] Thanh niên Việt
Nam-các số liệu điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009. Tài liệu dự thảo của UNFPA
(Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc).
[12] Mạnh
Hùng, Nạo phá thai ở tuổi vị
thành niên: Chuyện đau lòng!, www.suckhoedoisong.vn, ngày
13/5/2009.