GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA HỆ TƯ TƯỞNG PHONG KIẾN Ở ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC NƯỚC TA HIỆN NAY
08:41Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp góp phần nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững. Để hoàn thành nhiệm vụ to lớn ấy, đội ngũ trí thức phải được khuyến khích giúp đỡ, phát triển tài năng. Trong hàng loạt các biện pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức hiện nay thì việc đấu tranh nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của hệ tư tưởng phong kiến, kinh tế tiểu nông có vai trò quan trọng góp phần nâng cao phẩm chất cách mạng, năng lực chuyên môn, bản lĩnh khoa học... cho đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu xây dựng và BVTQ trong tình hình mới.
Cơ cấu đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay rất
đa dạng, trong đó không thể không kể tới những trí thức được đào tạo dưới chế độ
thực dân, phong kiến. Điều đó khó tránh khỏi “một bộ phận trí thức, ở mức độ
khác nhau còn chịu ảnh hưởng các các mặt hạn chế của hệ tư tưởng phong kiến,
kinh tế tiểu nông...”[1]trong
quá trình phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay. Để cuộc đấu tranh
khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của hệ tư tưởng phong kiến, kinh tế tiểu nông ở đội
ngũ trí thức có kết quả, trước hết phải nhận rõ những ảnh hưởng tiêu cực của
hệ tư tưởng phong kiến, kinh tế tiểu nông ở đội ngũ trí thức Việt Nam hiện
nay.
Khi phân tích, Đảng lao động Việt Nam
với lao động trí óc, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng, “chúng ta phải
thật thà nhận rằng: về chuyên môn và trong mức nào đó, thì anh chị em trí thức
khá. Song, vì ngày trước, anh chị em bị giáo dục trong đường lối và khuôn khổ
thực dân và phong kiến, cho nên tư tưởng và lề lối làm việc của anh chị em không
khỏi ảnh hưởng của thực dân và phong kiến”[2].Thực
tiễn cách mạng đã cho thấy, mặc dù chính quyền của thực dân, phong kiến đã bị
cách mạng đánh đổ mấy mươi năm nay, song, ý thức hệ và những tâm lý, tập quán
phong kiến vẫn còn tồn tại dai dẳng trong đời sống, đeo bám vào các tầng lớp
trong xã hội, trong đó có đội ngũ trí thức. Quá trình phát triển nhiều trí thức
đã tự mình “gột rửa” những “tàn tích” phong kiến và vươn lên trở thành những trí
thức chân chính, góp phần tích cực vào công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và
BVTQ. Vì vậy, họ được xã hội trân trọng, “đồng bào kính trọng, Chính phủ và
đoàn thể nêu cao”[3].Song,
bên cạnh đó còn những trí thức bị ảnh hưởng những tư tưởng và lề lối làm việc
phong kiến, tự trói buộc mình trong những giáo điều đã lỗi thời nên tự họ đã hạn
chế tài năng của mình trên lĩnh vực khoa học và do đó không góp được nhiều công
sức, trí tuệ cho sự nghiệp khoa học, thậm chí có những trí thức còn trở thành
vật cản của công cuộc đổi mới.
Như vậy, có thể thấy những ảnh hưởng tiêu cực
của hệ tư tưởng phong kiến và kinh tế tiểu nông đối với tư tưởng và lề lối
làm việc của trí thức hiện nay vẫn còn, trong đó tập trung chủ yếu vào mấy
vấn đề sau:
Thứ nhất, hệ tư tưởng phong kiến và kinh tế
tiểu nông đã hạn chế sự phát triển ý thức hệ vô sản, mà trước hết là cản
trở sự truyền bá, tiếp thu, vận dụng, phát triển lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh của đội ngũ trí thức trong thực
tiễn.
Những quan niệm, quan điểm dựa trên thế giới
quan, phương pháp luận duy tâm, siêu hình trong hệ tư tưởng phong kiến đối lập
với thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Sự đối lập này sẽ làm cho những nguyên lý, lý luận Mác-xít sẽ gặp phải
các rào cản cả về thế giới quan, phương pháp luận và lợi ích giai cấp của hệ tư
tưởng phong kiến trong quá trình truyền bá, tiếp thu, vận dụng, phát triển trong
thời kỳ mới.
Thứ hai, hệ tư tưởng phong kiến và kinh tế
tiểu nông đã hạn chế sự phát triển của tư duy lý luận của đội ngũ trí
thức.
Những tư tưởng, quan điểm - sản phẩm của tư
duy kinh nghiệm, đặc biệt là bệnh kinh nghiệm của hệ tư tưởng phong kiến là lực
cản trực tiếp đối với quá trình phát triển từ tư duy kinh nghiệm vươn lên tư duy
lý luận khoa học của đội ngũ trí thức. Đặc biệt, khi bệnh giáo điều, kinh nghiệm
được ngụy biện bởi lý luận khoa học thì sự cản phá của nó đối với tư duy lý luận
không chỉ là cản trở quá trình biện chứng nhận thức chân lý mà nó còn xuyên tạc,
bóp méo sự thật gây ra những hoài nghi về tính chân thực, cách mạng của thế giới
quan, phương pháp luận duy vật biện chứng. Theo đó, hệ quả tất yếu mà nó gây ra
chính là cản trở sự năng động, sáng tạo của đội ngũ trí thức trong việc vận
dụng, phát triển lý luận khoa học vào đời sống thực tiễn.
Thứ ba, hệ tư tưởng phong kiến, tiểu nông đã
hạn chế phong cách làm việc khoa học của đội ngũ trí
thức.
Dưới chế độ thực dân và phong kiến “những
người lao động trí óc, những người trí thức chân chính bị bọn thống trị biến
thành những người làm thuê cho chúng, “sớm vác ô đi, tối vác về”[4];hoặc
thấy mình là “lớp tiên tri, tiên giác” mà trở nên “kiêu ngạo, lên mặt”[5]... Điều này sẽ
ảnh hưởng đến phong cách làm việc dân chủ, cởi mở, tận tâm, tận lực trong nghiên
cứu, tìm tòi chân lý và sáng tạo ra cái mới chứa đựng các giá trị khoa học phục
vụ cho phát triển của chính người trí thức và cho sự phát triển xã hội. Sự hạn
chế trong phong cách làm việc sẽ dẫn đến sự khiếm khuyết trong nhân sinh quan,
nhân cách của người trí thức chân chính, cách mạng, tiến bộ.
Thứ tư, hệ tư tưởng phong kiến, tiểu nông tạo
kẽ hở để kẻ thù kích động, lợi dụng chống lại chính mục đích nhân đạo, nhân văn,
tiến bộ, văn minh, phát triển của khoa học.
Lối sống “sinh hoạt phong lưu,
nhưng tinh thần thì bị mờ mịt”6, ”cầu an,
hưởng lạc” của trí thức dưới thời thực dân và phong kiến còn rơi rớt lại ngày
nay sẽ là môi trường thuận lợi để các cám dỗ của lối sống tư sản phương Tây, mặt
trái của cơ chế thị trường sẽ xâm nhập, mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo... đội ngũ trí
thức cuốn vào vòng xoáy của những ham muốn hưởng lạc trái với thuần phong mỹ tục
và văn hoá dân tộc. Nếu không nhận thức và giải quyết được một cách khoa học về
quan hệ lợi ích, thì chắc chắn những trí thức này sẽ bị ham muốn tiền bạc, quyền
lực... sai khiến mà bất chấp chân lý khoa học và đạo lý làm người lương thiện,
từ đó có những suy nghĩ và hành động đi ngược lại với những mục đích, bản chất
tốt đẹp của khoa học, đi ngược lại mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động, lợi ích của dân tộc ta trong công cuộc xây dựng xã
hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa.
Để khắc phục những tác động tiêu cực của hệ tư
tưởng tưởng phong kiến, tiểu nông ở đội ngũ trí thức hiện nay cần tập trung vào
“cải tạo tư tưởng, sửa đổi lề lối làm việc; đào tạo trí thức mới, cải tạo tri
thức cũ; công nông trí thức hóa; trí thức công nông hóa”7. Theo đó cần
phải tập trung vào mấy vấn đề sau:
Một là, tiếp tục xây dựng và phát triển môi
trường sống và làm việc thật sự mang tính văn hoá cao và khoa học trong đội ngũ
trí thức.
Có rất nhiêu tiêu chí đánh giá môi trường sống
và làm việc thật sự có văn hoá cao và khoa học, trong đó, tính dân chủ là yếu
tố quan trọng hàng đầu, phản ánh đậm nét tính văn hoá và khoa học của môi
trường sống, làm việc của đội ngũ trí thức cách mạng. Môi trường sống và làm
việc nếu phát huy được dân chủ sẽ “làm cho mọi người có gì nói hết, cái đúng
thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa”[6]. Sự
công khai, thẳng thắn, trung thực trong các quan hệ ứng xử sẽ góp phần hạn chế,
đẩy lùi tệ chuyên quyền, độc đoán, kiêu ngạo, chủ quan, ích kỷ, hẹp hòi, coi
thường người khác... trong bản thân mỗi trí thức.
Trong môi trường văn hoá sẽ thúc đẩy quá trình
tự “hoá văn” trong mỗi người trí thức. Chân giá trị chân - thiện - mỹ được hình
thành, phát triển trong quá trình “hoá văn” sẽ làm cho thói ích kỷ, vụ lợi,
kiêu ngạo, độc đoán... sẽ ngày càng thấy mình xa lạ, kệch cỡm trước xu thế phát
triển tiến lên của thực tiễn đời sống.
Dân chủ và kỷ cương dưới CNXH về bản chất là
có sự thống nhất với nhau, gắn bó chặt chẽ không thể tách rời. Vì vậy, để có và
bảo đảm quyền dân chủ thì bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện các thiết chế bảo
đảm dân chủ như: “ban hành qui chế dân chủ trong hoạt động khoa học, công
nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa và văn nghệ...”[7], hoàn
thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền dân chủ trong các
hoạt động cho đội ngũ trí thức.... thì việc xử lý nghiêm khắc và dân
chủcác biểu hiện mất dân chủ trong hoạt động của trí thức có vai trò hết sức
quan trọng trong việc bảo đảm môi trường dân chủ thực sự cho hoạt động của đội
ngũ trí thức.
Hai là, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ
trí thức.
Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ trí thức
hiện nay, bên cạnh những thuận lợi cũng có nhiều thách thức. Những biến đổi
nhanh chóng của thực tiễn hàng ngày, hàng giờ đang đặt ra cả về phương diện lý
luận và thực tiễn mà chưa có lời giải thật sự khoa học đủ sức thuyết phục mọi
người. Theo đó, nếu không có tư duy lý luận khoa học vững chắc sẽ rất dễ dao
động, thiếu niềm tin vào những nguyên lý lý luận đã được đúc kết và sự đơm hoa
kết trái tất yếu trong công cuộc tìm kiếm chân lý khoa học. Sự dao động này dễ
xuất hiện những biểu hiện muốn tìm “thần”, “Chúa”, “Trời”, “cái hích của Thượng
đế”... trong nhận thức và hành động của trí thức, đặc biệt là trong những luận
giải về mối quan hệ giữa đời sống tâm linh và thực tiễn cuộc sống thường
nhật.
Để phát triển tư duy lý luận
khoa học của đội ngũ trí thức hiện nay, bên cạnh việc trang bị hệ thống, toàn
diện, sâu sắc kiến thức khoa học chuyên ngành thì việc tiếp tục trang bị thế
giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng làmcơ sở lý luận, kim chỉ nam
cho mọi hoạt động của đội ngũ trí thức hiện nay có vai trò hết sức quan trọng.
Sự vững vàng trên lập trường của thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện
chứng và lý luận khoa học chuyên ngành không chỉ là sơ sở quan trọng để xua tan
những hoài nghi, dao động thiếu luận cứ khoa học, những ý tưởng muốn “ tìm
thần”, “ tạo thần”, những lập luận máy móc, giáo điều trong khoa học, mà còn là
cơ sở để củng cố lòng tin vào các lý luận khoa học đã được đúc rút, giải đáp
những hoài nghi khoa học trên cơ sở thực tiễn đời
sống...
Ba là, nâng cao chất lượng phản biện khoa học
trong các kết quả nghiên cứu và hoạt động của đội ngũ trí
thức.
Phản biện khoa học không phải là vấn đề mới mẻ
trong khoa học và trong hoạt động của đội ngũ trí thức. Những năm qua đã có rất
nhiều những phản biện khoa học trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã
đạt được cả về “ tâm”, “ tầm”. Những kết quả đó đã góp phần “lật tẩy” được nhiều
những kết quả nghiên cứu mang tính áp đặt, giáo điều, máy móc, hời hợt, cẩu thả,
xa lạ với đời sống thực tiễn. Song, vẫn còn không ít những phản biện khoa học
không chỉ thiếu cái “tâm”, thấp về “tầm” mà còn bị lệch “trục” chủ đạo.
Điều này không chỉ làm cho các kết quả nghiên cứu khoa học và hoạt động của đội
ngũ trí thức không những không xác định được giá trị thực của nó mà còn là
mảnh đất tốt cho tệ quan liêu, kiêu ngạo, lười biếng, tùy tiện, vô trách
nhiệm... tồn tại trong đội ngũ trí thức.
Nhiều ý kiến cho rằng, nguyên nhân của những
điểm mạnh, điểm yếu trong các phản biện khoa học có rất nhiều, song, nguyên
nhân cốt lõi nhất vẫn là ở cái “tâm” của người trí thức. Vì vậy, để nâng cao
chất lượng phản biện khoa học hiện nay, một trong những vấn đề quan trọng nhất
là phải tạo và giữ được cái “tâm” của đội ngũ trí thức luôn trong
sáng. Để có được cái “tâm” sáng thì đội ngũ trí thức phải không ngừng được
giáo dục, được tiếp cận và chọn lựa các giá trị của cuộc sống, đặc biệt là
các giá trị của lao động trí óc. Khi trí thức tự giác nhận thức được và hành
động theo chân giá trị của lao động trí óc thì đó cũng là lúc cái “tâm” được tỏa
sáng trong mọi nhận thức và hành động.
Có được cái “tâm” sáng đã khó, việc gìn giữ
được cái “tâm” luôn sáng lại khó hơn gấp nhiều lần. Trong thực tế người ta có
thể viện ra hàng trăm ngàn lý do để biện minh cho sự vẩn đục của lương
tâm. Nhưng điều không thể phủ nhận được là việc nhận thức và lý giải các quan
hệ lợi ích là cái sâu xa nhất, trực tiếp nhất quyết định tới sự giữ gìn cái
“tâm” sáng.
Để kết luận quan điểm của mình, Ph.Ăng-ghen đã
dẫn nhận xét của Moóc-gan: “...lợi ích của xã hội phải tuyệt đối cao hơn lợi
ích cá nhân và cần phải tạo ra những mối quan hệ công bằng và hài hoà giữa hai
lợi ích đó”[8]. Khi
quan hệ lợi ích bị nhận thức và giải quyết sai lệch thì tự khắc những lập luận
phản biện trở nên vô hồn, gượng gạo, dần tự đánh mất vai trò phản biện của mình.
Nhận thức và giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích thì những lập luận phản biện
khoa học sẽ thấm đượm cả lý và tình, toát lên cái “hồn” sáng trong, không vụ
lợi, không định kiến, không mặc cảm, sẽ làm cho thói ích kỷ, kiêu ngạo, vụ lợi,
bon chen... thấy nhỏ bé trước cái “ tâm” sáng trong của những lập luận phản
biện... Với cái liêm, sỉ của kẻ sĩ sẽ làm cho thói ích kỷ, kiêu ngạo, vụ lợi,
bon chen... phải tự tìm lời răn và tự bốc thuốc chữa bệnh cho chính sự tồn
tại của mình.
Bốn là, xây dựng tác phong làm việc khoa học
cho đội ngũ trí thức.
Tác phong làm việc khoa học phản ánh thế giới
quan, nhân sinh quan tiến bộ, khoa học của đội ngũ trí thức. Có rất nhiều tiêu
chí đánh giá tác phong làm việc khoa học của đội ngũ trí thức, trong đó chất
lượng, hiệu quả công việc là một trong những tiêu chuẩn cao nhất đánh giá tác
phong làm việc khoa học của đội ngũ trí thức. Tác phong làm việc “sớm vác ô đi, tối vác về”,
quan liêu, gia trưởng, đặc biệt là sự vô cảm đang tồn tại trong rất nhiều trí
thức, nhất là ở những trí thức có chức quyền trong khu vực hành chính sự nghiệp
của Nhà nước. Nguyên nhân của tình trạng trên có rất nhiều, trong đó không thể
không kể đến nguyên nhân nhu cầu công việc và sự mô phạm ngay trong đội ngũ
trí thức.
Để khắc phục tác phong, lề lối làm việc trên
đây, trước hết phải quan tâm, giải quyết nhu cầu được làm việc, được lao động,
được cống hiến một cách phù hợp của trí thức đối với đất nước. Có việc làm và
việc làm phù hợp với bản thân trí thức sẽ là động thúc đẩy sự say mê nghiên cứu,
tìm tòi, sáng tạo không kể thời gian và năm tháng, không kể khó khăn, trở
ngại... Sự mô phạm về tác phong, lề lối làm việc của cấp trên với cấp dưới là
một tấm gương trực tiếp và hiệu quả nhất đối với tác phong, lề lối làm việc của
cấp dưới. Sự chấp hành tự giác kỷ cương, quy định của cơ quan, tổ chức của cấp
dưới như là một hiệu ứng ngược tác động mạnh mẽ đến sự mô phạm của cấp trên. Sự
mô phạm hài hòa trên - dưới tạo nên môi trường văn hóa mà ở đó những tệ vô cảm,
hách dịch, cầu an, hưởng lạc, tự ti, mặc cảm, được chăng hay chớ... sẽ trở nên
lạc lõng và cùng với thời gian nhất định nó sẽ bị lịch sử bỏ
qua.
Năm là, tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ trí thức thiết tha gắn bó với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có tư duy
sáng tạo và năng lực làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện
đại.
Đội ngũ trí thức là vốn quý của Đảng, của dân
tộc ta. Vì vậy, cần phải chăm lo bồi dưỡng, nuôi dưỡng hoài bão khoa học, có ý
chí, tình cảm, năng lực sáng tạo, tính tự chủ, tự tin, tự trọng, độc lập, thực
sự là lực lượng nòng cốt đi đầu trong xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ cuả
đất nước. Do đó, các cơ quan lãnh đạo, quản lý cần quán triệt sâu sắc các quan
điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức. Làm cho mọi tổ chức, mọi lực lượng
và mỗi cá nhân từng trí thức nhận thức đúng vai trò trách nhiệm của đội ngũ trí
thức trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cần phải
có chiến lược phát hiện, nuôi dưỡng, đào tạo và trọng dụng nhân tài. Theo đó,
trong thời gian tới cần phải có quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
khoa học và công nghệ trẻ có tài năng, cán bộ khoa học công nghệ và các chuyên
gia đầu ngành của đất nước.
Sáu là, bổ sung hoàn thiện chính sách đãi ngộ
về vật chất và tinh thần đối với lao động trí thức.
Chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần
hợp lý, xứng đáng với lao động trí óc của trí thức sẽ tạo động lực để trí thức
hăng hái cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nếu
các chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần không thoả đáng, lao động của
trí thức không được coi trọng thì không những không tạo ra động lực làm việc mà
còn dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”. Đảng ta xác định: “... Rà soát
các chính sách hiện có và ban hành các cơ chế, chính sách mới bảo đảm để trí
thức được hưởng đầy đủ lợi ích vật chất, tinh thần tương xứng với giá trị từ kết
quả lao động sáng tạo của mình”[9]. Đương nhiên việc đãi ngộ xứng đáng về vật chất
và tinh thần không đồng nghĩa với việc ưu tiên, ưu đãi, đòi hỏi thái quá mà ở sự
đánh giá đúng giá trị của sản phẩm lao động trí óc do trí thức tạo ra cho xã
hội. Vấn đề đặt ra hiện nay là bổ sung đổi mới chính sách khen thưởng đối với
trí thức, tôn vinh những người có tâm huyết, tài năng, có các chế độ quy định
bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ của trí thức, đồng thời tạo ra
những điều kiện thuận lợi để trí thức hướng hoạt động sáng tạo của mình vào mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của hệ tư
tưởng phong kiến ở đội ngũ trí thức nước ta hiện nay vừa là khoa học, vừa là
nghệ thuật để góp phần xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh. Phải coi đây là một
hướng ưu tiên, một yếu tố đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tế tri thức, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb
CTQG, H. 2008, tr.32.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2002, tr.203.
[3] Hồ
Chí Minh, Sđd., tập 6, tr.542.
[4] Hồ Chí Minh,
Sđd., tập 6, tr. 542.
[5] Hồ Chí Minh,
Sđd., tập 5, tr.235.
[6] Hồ Chí
Minh, Sđd., tập 5, tr. 224.
[7]Đảng
Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.35.
[8] C. Mác và Ph.Ăng-ghen,
Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, H.1995, tr.265.
[9]Đảng
Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.94.
BẢN LĨNH VĂN HÓA VIỆT NAM TRƯỚC ĐÒI HỎI CỦA DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI
08:39
Lịch
sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam ta luôn gắn liền với quá trình giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Trong lịch sử giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc, dân tộc Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng trước sự
du nhập của những trào lưu văn hoá ngoại lai. Hiện nay, xu thế mở cửa, giao lưu,
hội nhập văn hoá ngày càng trở nên sâu rộng, bản lĩnh văn hoá Việt Nam đang phải
đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của dân
tộc. Trước những yêu cầu của dân tộc và thời đại, đặc biệt là trong xu thế giao
lưu, hội nhập hiện nay, việc xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam có ý nghĩa to
lớn đối với việc phát huy sức mạnh văn hoá, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Bản lĩnh của
một nền văn hoá là tổng hợp toàn bộ những nhân tố thể hiện cốt cách, khí phách,
tư chất và sức mạnh khẳng định bản sắc dân tộc trước tác động của các nền văn
hoá khác trong giao lưu, hội nhập. Một nền văn hoá thiếu bản lĩnh thì dễ bị đánh
mất bản sắc dân tộc. Bản sắc văn hoá là hồn dân tộc và do vậy, mất bản sắc văn
hoá chẳng khác nào một người không còn thần sắc. Phát huy bản lĩnh văn hóa Việt
Nam trong xu thế toàn cầu hóa, chính là việc nuôi dưỡng và bồi đắp sức sống cho
những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trước sự tác động đa chiều của
thời đại.
Việt Nam có
lịch sử phát triển văn hoá lâu đời. Lịch sử đó thống nhất với lịch sử dựng nước
đi đôi với giữ nước. Với đặc thù tự nhiên, với vị trí địa lý là trung tâm giao
lưu Bắc – Nam, Đông – Tây, Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu và đã tiếp thu được
nhiều giá trị văn hoá bên ngoài để làm giàu văn hoá dân tộc. Có thể nói, “đầu
vào” của văn hoá Việt Nam rất đa dạng, nhưng “đầu ra” lại rất đặc sắc Việt Nam.
Nền văn hoá Việt Nam có nhiều dấu ấn, giá trị văn hoá đặc sắc của Phật giáo, Nho
giáo, Đạo giáo, thậm chí cả của phương Tây. Điều đó là do sự tiếp thu có nguyên
tắc - không đánh mất bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam. Các giá trị văn hoá
bên ngoài rất đa dạng, phong phú, nhưng khi vào Việt Nam đều được Việt Nam hoá.
Chẳng hạn, từ bi của Phật giáo khi xâm nhập vào Việt Nam đã trở thành đại từ,
đại bi của Việt Nam; cái hùng, cái nhân của Nho giáo đã trở thành cái đại hùng,
đại nhân của Việt Nam (“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo
trừ bạo” - Nguyễn Trãi).
Cái đặc sắc
và bản lĩnh văn hoá Việt Nam luôn dựa trên sự lựa chọn lối ứng xử “hài hoà” của
chủ thể văn hoá. Hài hoà với thiên nhiên, hài hoà trong xã hội được biểu hiện ở
tất cả các mặt, các lĩnh vực của cuộc sống và trên tất cả các cấp độ, từ cách
đối nhân xử thế hàng ngày đến nếp sống, lối tư duy, quan niệm về đạo lý làm
người. Do ứng xử hài hoà, văn hoá Việt Nam không cự tuyệt các giá trị văn hoá
bên ngoài theo lối cực đoan, mà sẵn sàng tiếp thu một cách có nguyên tắc, không
đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc.
Trong lịch sử
dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ văn hoá Việt Nam có cơ hội tiếp thu những giá trị
từ nhiều nền văn hoá, song cũng chứa đựng nhiều nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc
của văn hoá như hiện nay. Để phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, bản lĩnh văn hoá Việt Nam phải được củng cố vững vàng trong
tình hình mới. Nội dung quan trọng nhất để xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam là
tuân thủ quy luật đó một cách linh hoạt và sáng tạo. Do vậy, xây dựng bản lĩnh
văn hoá Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải có chiến lược phát triển văn hoá
một cách khoa học, kết hợp được và thể hiện được sự thống nhất giữa tính nguyên
tắc với tính linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng. Đây là hai mặt của một vấn đề.
Nếu vận dụng một cách khoa học, chúng sẽ trở thành tiền đề, động lực phát triển
cho nhau; còn nếu vận dụng một cách thiếu khoa học, chúng sẽ cản trở sự phát
triển của nhau. Sự thống nhất giữa tính nguyên tắc và sự linh hoạt, sáng tạo
trong vận dụng đó còn phải được thẩm thấu vào tiềm thức của mỗi chủ thể ở các
cấp độ khác nhau để tạo ra sự thống nhất, đồng bộ từ trên xuống dưới, thậm chí ở
mỗi con người cụ thể.
Bản lĩnh của
một nền văn hoá dựa trên sức đề kháng với những tác động từ bên ngoài trong quá
trình phát triển và trong quan hệ giao lưu, hội nhập. Trong lịch sử, văn hoá
Việt Nam luôn có sức đề kháng to lớn. Nhờ đó, văn hoá Việt Nam đã tạo dựng được
bản lĩnh vững vàng trong giữ gìn bản sắc dân tộc. Trước sức mạnh xâm nhập của
các giá trị văn hoá bên ngoài, văn hoá Việt Nam đã không bị đồng hoá, không đánh
mất bản sắc của mình. Sức đề kháng đó của văn hoá Việt Nam còn có cội nguồn từ
tầng sâu của tâm hồn, trí tuệ, lòng tự tôn dân tộc, không chịu khuất phục trong
mỗi con người Việt Nam. Cội nguồn sức đề kháng của văn hoá Việt Nam là như vậy,
nên chính sách đồng hoá về văn hoá trong suốt thời gian đô hộ cả ngàn
năm của phong kiến phương Bắc, thậm chí cả của chủ nghĩa thực dân cũ và mới hơn
một trăm năm vẫn không làm phai nhạt bản sắc văn hoá dân tộc. Dân tộc ta, dù bị
thất bại về quân sự nhiều lần, nhưng nhờ cội nguồn sức mạnh đó, cuối cùng vẫn
vùng dậy đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập dân tộc.
Hiện nay, sức
đề kháng trong bản lĩnh văn hoá Việt Nam lại một lần nữa đứng trước thử thách
của sự xâm nhập với quy mô lớn của các giá trị văn hoá bên ngoài. Sự xâm nhập đó
không chỉ giới hạn ở quy luật giao lưu, hội nhập văn hoá, mà còn ở chính sách
xâm lược về chính trị, quân sự của các thế lực thù địch. Do vậy, giờ đây, hơn
lúc nào hết, chúng ta phải có chiến lược nâng cao sức đề kháng của văn hoá Việt
Nam một cách phù hợp để nâng cao bản lĩnh văn hoá Việt Nam – một vấn đề sống còn
của dân tộc ta hiện nay.
Nâng cao sức
đề kháng của nền văn hoá dân tộc ta hiện nay là quá trình làm cho cơ thể văn hoá
Việt Nam được “miễn dịch” với mọi tác động của các phản giá trị đang làm băng
hoại văn hoá. Sức đề kháng đó chỉ có thể có được khi các yếu tố bên trong cấu
thành nền văn hoá Việt Nam cùng phát triển và tác động đồng thuận theo định
hướng của Đảng ta. Như vậy, Đảng phải tự đổi mới ngang tầm nhiệm vụ để thật sự
là đạo đức, là văn minh, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, đủ sức lãnh đạo xây
dựng sức đề kháng cho văn hoá Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội
nhập hiện nay. Mặt khác, mỗi con người Việt Nam phải thật sự là một chủ thể kiên
cường trước sự lôi kéo, mua chuộc của những phản văn hoá. Quá trình nâng cao sức
đề kháng cho văn hoá Việt Nam cần trang bị cho mỗi người khả năng nhận thức và
tự hào về lịch sử phát triển văn hoá dân tộc với tất cả những giá trị của truyền
thống oai hùng trong dựng nước đi đôi với giữ nước. Đồng thời, cần phải tạo ra
tâm lý biết hổ thẹn với non sông đất nước khi Tổ quốc bị xâm lăng. Trong hệ giá
trị văn hoá truyền thống Việt Nam, tội lớn nhất là phản bội dân tộc, “rước voi
về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà”. Hiện nay, tệ sùng bái văn hoá phương Tây,
quay lưng lại quá khứ, thiếu trách nhiệm với hiện tại và mơ hồ về tương lai dân
tộc cần phải được lên án mạnh mẽ và đào thải ra khỏi đời sống xã
hội.
Để bản sắc
văn hóa dân tộc trở thành “bộ lọc” tốt, phải xác định rõ ranh giới giữa tinh hoa
văn hóa và các yếu tố lạc hậu trong văn hóa truyền thống. Tinh hoa văn hóa có
tính bền vững truyền từ đời này sang đời khác, sống mãi với một dân tộc. Nhưng
do sự hạn chế có tính lịch sử, văn hóa quá khứ chứa đựng những yếu tố lạc hậu,
trở thành vật cản của sự phát triển xã hội. Thực tế cho thấy, một khi buông lỏng
quản lý văn hóa trong cơ chế thị trường, thì lập tức mặt trái của cơ chế thị
trường tạo điều kiện cho những mặt trái của văn hóa quá khứ, (như hủ tục, lệ
làng, mê tín dị đoan, tư duy tiểu nông, lối sống lạc hậu…) phát triển nhanh
chóng. Cùng nằm trong khuôn khổ của văn hóa quá khứ, nên việc tìm ra ranh giới
này không phải là đơn giản, dễ nhầm lẫn hoặc rơi vào máy móc, làm tổn hại đến
giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Vì thế, việc xác định ranh giới đó là rất
cần thiết, nhằm góp phần làm sáng rõ giá trị đích thực của bản sắc văn hóa Việt
Nam trong mọi thời đại.
Nâng
cao sức đề kháng cho văn hoá Việt Nam, chúng ta còn phải đào thải những phản giá
trị nảy sinh từ chính mặt trái của kinh tế thị trường để xây dựng cơ thể văn hoá
Việt Nam không còn những nhân tố làm băng hoại đạo đức, lối sống, suy đồi về văn
hoá. Một cơ thể văn hoá cường tráng sẽ không còn những “vi rút” gây bệnh từ bên
trong. Sự xâm nhập những phản giá trị từ bên ngoài bao giờ cũng thông qua những
phản giá trị nảy sinh từ bên trong. Do vậy, sự thống nhất giữa phòng ngừa, đào
thải những phản giá trị ở bên trong với đẩy lùi sự xâm nhập những phản giá trị
từ bên ngoài cần được coi là giải pháp hữu hiệu trong xây dựng sức đề kháng cho
văn hoá Việt Nam hiện nay.
Một
dân tộc chỉ biết mỗi “làm giàu” là dân tộc thiếu chiều sâu. Mục tiêu mà Đảng ta
đề ra là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là sự kết hợp
các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội trong quá trình xây dựng, phát
triển đất nước. Không thể xây dựng một xã hội văn minh với nền kinh tế lạc hậu,
thấp kém; ngược lại, có một nền kinh tế phát triển nhưng thiếu văn minh thì
không phải là một xã hội tiến bộ. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để kinh tế và
văn hóa phát triển hài hòa trong sự phát triển của xã hội, để kinh tế không phá
hoại văn hóa và văn hóa không cản trở sự phát triển kinh tế.
Xây dựng bản
lĩnh văn hoá Việt Nam hiện nay, chúng ta không thể không phát triển tư chất,
khí phách, cốt cách của chủ thể văn hoá trong tư thế ứng xử với xu thế giao lưu,
hội nhập. Bởi lẽ, bản lĩnh của một nền văn hoá bao giờ cũng biểu hiện tập trung,
sâu sắc ở tư chất, cốt cách và khí phách của chủ thể văn hoá. Mỗi dân tộc đều có
tư chất, khí phách riêng trong quan hệ, giao lưu với văn hoá nước ngoài. Văn hoá
Việt Nam luôn thể hiện tư chất, cốt cách, khí phách đặc sắc của dân tộc Việt
Nam. Mặc dù là một nước nhỏ bên cạnh nước lớn, trong thế liên tục phải chống lại
sự đồng hoá văn hoá, nhưng dân tộc Việt Nam đã hình thành cho mình tư thế hiên
ngang, khí phách anh hùng, không chịu khuất phục. Trước sự phát
triển rực rỡ của nền văn hoá Hán, nhiều dân tộc xung quanh, mặc dù chiến thắng
về quân sự, nhưng lại thất bại về văn hoá, bị đồng hoá về văn hoá và trở thành
bản sao của văn hoá Hán. Thế nhưng, cũng trong bối cảnh đó, văn hoá Việt Nam vẫn
luôn khẳng định được bản sắc của mình, vẫn giữ được cốt cách, tư chất và khí
phách của dân tộc Việt Nam.
Trong bối
cảnh quốc tế đầy biến động như hiện nay, dân tộc Việt Nam với tư cách một chủ
thể văn hoá càng phải thể hiện rõ cốt cách, tư chất, khí phách của mình để bảo
vệ, giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam trước những khó khăn, phức tạp mới trong xu
thế giao lưu, hội nhập toàn cầu. Để thực hiện điều này, trong bối cảnh mới,
chúng ta cần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử, truyền thống yêu
nước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc… để hun đúc khí phách, cốt cách và tư chất con
người Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập ngày càng sâu
rộng. Đồng thời, nêu cao tính chủ động để sẵn sàng giao lưu, hội nhập, tiếp thu
những giá trị văn hoá nhân loại với tư thế, tư chất và khí phách con người Việt
Nam.
Xây dựng bản
lĩnh văn hoá Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay,
chúng ta cũng cần phải gia tăng hàm lượng trí tuệ trong bản sắc văn hoá Việt
Nam. Văn hoá và văn minh không đồng nhất, nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ
hữu cơ với nhau. Hiện nay, sự phát triển với tốc độ vũ bão của cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là kinh tế tri thức đang mở ra một môi
trường cạnh tranh và chạy đua về trí tuệ gay go, phức tạp giữa các quốc gia, dân
tộc và tác động sâu sắc đến các nền văn hoá. Trong bối cảnh đó, sự biểu đạt,
tiếp thu và lan toả những giá trị của một nền văn hoá thể hiện bản lĩnh vững
vàng của chủ thể văn hoá một dân tộc cũng cần phải chứa đựng hàm lượng trí tuệ
cao. Trong thế ứng xử hiện nay, bản lĩnh của một nền văn hoá không thể có thế
mạnh, nếu không có sự gia tăng về hàm lượng trí tuệ.
Để bản lĩnh
văn hoá Việt Nam mang tầm thời đại, chúng ta không thể không nâng cao hàm lượng
trí tuệ cho nó. Nâng cao hàm lượng trí tuệ trong xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt
Nam phải bắt đầu từ giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí. Chất lượng và hiệu quả
của việc nâng cao dân trí sẽ đem lại cho con người Việt Nam khả năng phân biệt
được cái giá trị, cái phản giá trị; cái cần tiếp thu, cái không cần tiếp thu của
văn hoá ngoại lai. Trên cơ sở nâng cao trình độ khoa học về mọi mặt, họ sẽ tự
khẳng định được tính chủ thể và bản lĩnh của một chủ thể văn hoá tích cực, nhờ
đó bản lĩnh văn hoá Việt Nam trở nên thực sự vững vàng trong thế ứng xử với xu
thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện nay. V.I.Lênin đã nói: “Chừng nào người ta
chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp
này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và
những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì
trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người ta lừa bịp và tự
lừa bịp mình về chính trị”[1].
Xây dựng bản
lĩnh văn hoá Việt Nam trong thế ứng xử hiện nay phải tạo thế chủ động trong phát
triển văn hoá và trong giao lưu, hội nhập. Xu thế giao lưu, hội nhập có tính
chất toàn cầu hiện nay là quy luật phát triển của nhân loại và của từng dân tộc.
Một nền văn hoá có bản lĩnh không thể ở thế bị động trong xu thế giao lưu, hội
nhập với các nền văn hoá khác. Tạo thế chủ động trong xây dựng bản lĩnh nền văn
hoá Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ bản sắc dân tộc và sự phát
triển của văn hoá Việt Nam. Yêu cầu đó đòi hỏi phải có sự kết hợp một cách hợp
lý giữa chiến lược phát triển lâu dài với chủ trương, biện pháp trước mắt. Quá
trình giao lưu, hội nhập trong xu thế hiện nay luôn đòi hỏi chúng ta phải bảo
đảm sự hài hoà giữa giữ vững nguyên tắc với phát huy tính chủ động, sáng tạo của
mỗi chủ thể ở các cấp độ khác nhau. Tính nguyên tắc trong việc giữ vững bản sắc
văn hoá dân tộc để không trở thành bản sao văn hoá của dân tộc khác là quán
triệt quan điểm giai cấp của Đảng, tạo thế chủ động và tích cực tham gia vào xu
thế chung hiện nay, đồng thời cần khắc phục tâm lý lo ngại hoặc tham gia giao
lưu, hội nhập một cách vô nguyên tắc.
Trước những
yêu cầu ngày càng cao của dân tộc và thời đại, mà trực tiếp là trong xu thế giao
lưu, hội nhập hiện nay, xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam vững vàng là vấn đề
có tính sống còn trong việc bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Ý thức
sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng ta xác định, phát triển văn hoá với
tư cách nền tảng tinh thần của xã hội, cho nên, cần “Tiếp tục phát triển sâu
rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc… Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá…, đặc biệt là lý tưởng
sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt
Nam”[2].
Tư tưởng chỉ đạo này cần được quán triệt sâu rộng và đi vào phong trào quần
chúng để mỗi con người, mỗi tổ chức và cả dân tộc ta luôn là chủ thể văn hoá có
bản lĩnh vững vàng trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện
nay.
[1] V.I.Lênin. Toàn
tập, t.23. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980,
tr.57.
[2] Đảng
Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Nxb CTQG, Hà Nội, 2006,
tr.106.
PHƯƠNG PHÁP THỰC TIỄN TRONG LUẬN GIẢI CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
08:38
Mở
đầu: Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá đúng, tư duy đúng và sử dụng đúng vai
trò của thực tiễn đời sống xã hội để luận giải mọi vấn đề xã hội. Ở Người, mỗi
lời nói, mỗi câu mỗi chữ đều được rút ra từ thực tiễn, là sự tổng hợp từ thực
tiễn sinh động phong phú. Việc đánh giá đúng đắn vai trò thực tiễn, cách thức tư
duy khoa học về thực tiễn và phương pháp sử dụng thực tiễn như một phương tiện
để giải thích mọi vấn đề của chính thực tiễn đời sống xã hội của Hồ Chí Minh là
một phương pháp khoa học đích thực, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam
và được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:
1.
Xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng sự thực, tìm lời giải cho các vấn đề xã hội từ
chính thực tiễn đời sống xã hội.
Thực
tiễn theo
Hồ Chí Minh trước hết là hệ thống sinh hoạt, hoạt động của xã hội: “Ngoài hoạt
động sản xuất, sự thực hành của người ta còn có: giai cấp đấu tranh, sinh hoạt
chính trị, hoạt động khoa học và nghệ thuật, v.v.. Tóm lại, tất cả mọi ngành
hoạt động trong xã hội đều do người của xã hội tham
gia. Vì vậy, ngoài sinh hoạt vật chất, người ta còn do sinh hoạt chính trị,
vǎn hoá (dính dáng khǎng khít với sinh hoạt vật chất) mà hiểu biết các thứ quan
hệ giữa người với người”[1]. Thực tế xã
hội đối với người cán bộ cách mạng là những vấn đề cần phải
giải quyết, tháo gỡ vì sự phát triển tiến bộ của xã hội: “Thực
tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật.
Chúng ta là những người cán bộ cách mạng, thực tế của chúng ta là những vấn đề
mà cách mạng đề ra cho ta phải giải quyết. Thực tế bao gồm rất rộng. Nó bao gồm
kinh nghiệm công tác và tư tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của Đảng,
kinh nghiệm lịch sử của Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế
giới”[2].
Từ
những phân tích của Hồ Chí Minh cho chúng ta những ý tưởng quan
trọng. Thực tiễn đời sống xã
hội chính là sự tổng hợp những hoạt động xã hội, những quan hệ xã hội của những
con người sống trong xã hội. Thực tiễn đời sống xã hội có vô
vàn hiện tượng xã hội, vấn đề xã hội, hiện tượng xã hội đa dạng phong phú, vai
trò của từng hiện tượng xã hội hoàn toàn khác nhau. Có những hiện tượng xã hội
mang tính tích cực, đóng vai trò độc lực xã hội, ngược lại có hiện tượng xã hội
mang tính tiêu cực, cản trở sự phát triển xã hội. Song chỉ những vấn đề xã hội,
hiện tượng xã hội nào đang hiện diện hàng ngày mà biểu hiện của nó là “những vấn
đề cần tháo gỡ” là “những mâu thuẫn của sự vật hiện tượng” mới là đối tượng trực
tiếp cần nghiên cứu. Vấn đề xã hội chỉ thực
sự là vấn đề cần nghiên cứu, tháo gỡ khi nó được nhận diện trên thực tế chứ
không phải là vấn đề xã hội phát sinh từ sự tưởng tượng của nhà nghiên
cứu. Tức là, nghiên cứu xã hội phải nghiên cứu những vấn đề có
thực trong đời sống xã hội, nhưng không phải là sự thật
chung chung hoặc “trần trụi”, mà lại là sự thật, mà ở đó lựa chọn đối tượng
nghiên cứu có lợi cho sự ổn định, phát triển xã hội. “Chân lýlà
cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc,
của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân
dân - tức là phục tùng chân lý”[3].
Nghiên
cứu các vấn đề xã hội, nguyên tắc quan trọng đầu tiên là phải tôn trọng sự khách
quan, tôn trọng sự thật, khi phản ánh bất kỳ một vấn đề xã hội, hiện tượng xã
hội nào, Người yêu cầu: “Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái
xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì
phải có chừng mực, chớ
phóng đại. Có thế nào nói thế ấy”[4].
Hay khi lập kế hoạch giải quyết một vấn đề xã hội thì phải nắm
vững quy
luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn
thận những điều kiện cụ
thể, những biện pháp cụ thể. Kế hoạch phải chắc chắn, cân đối.
Tuyệt đối không đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực
tế. Nghiên cứu phản ánh
những vấn đề có thật, phản ánh đúng sự thật, tôn trọng sự thật “có thế nào nói
thế ấy”, không tô hồng bôi đen mới có thể hiểu được bản chất của mọi vấn đề thực
tiễn - đó là những quy tắc quan trọng đầu tiên trong quá trình
phân tích các vấn đề xã hội.
Tôn
trọng sự thật đòi hỏi quá trình nghiên cứu phải hết sức tỷ mỷ, kỹ càng. Việc báo
cáo phải thật thà, gọn gàng, rõ ràng, thiết thực. Những tài liệu và con số phải
phân tích và chứng thực. Nếu “không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi
không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”. Tôn trọng sự
thật phải dày công tìm hiểu sự thật, phải lăn lộn với đời sống xã hội, Người
khẳng định: “Muốn hiểu biết một việc gì, một vật gì, thì phải tham gia vào cuộc
đấu tranh và biến đổi của việc ấy, vật ấy. Có như thế mới thấy được hiện tượng
của nó, và tiến tới hiểu biết bản
chất của nó. Đó là con đường thực tế, ai muốn hiểu biết cũng
phải trải qua”[5].
Khi phân tích mọi vấn đề xã hội, Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò định hướng, soi
đường của lý luận, đồng thời Người luôn coi trọng
thực tiễn và sử dụng đúng thực tiễn như một “phương tiện” để cắt nghĩa luận giải
vấn đề xã hội. Theo Người, mọi lời giải đáp cho các vấn đề xã
họi của thực tế Việt Nam phải tìm từ chính thực tiễn Việt Nam.
Tôn
trọng thực tiễn, tìm lời giản cho các vấn đề xã hội phải từ chính thực tiễn đời
sống xã hội, đây là một quy tắc quan trọng mà Người đã trải nghiệm bằng chính
cuộc đời hoạt động cách mạng. Đặc biệt trong những năm đầu thế kỷ XX, sau gần
mười năm bôn ba khắp các châu lục, làm nhiều nghề khác nhau, tìm hiểu nhiều nền
văn hóa, tiếp xúc với nhiều hạng người, Hồ Chí Minh đã rút ra được những kết
luận quan trọng về xã hội loài người, về chủ nghĩa đế quốc, về con đường cứu
nước. Không phải qua sách vở, mà qua thực tiễn cuộc sống, Người cho rằng: dù màu
da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và
giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu
ái vô sản. Từ đất nước mình và qua nhiều nước thuộc địa, Người thấy rõ, chủ
nghĩa đế quốc đâu đâu cũng tàn ác dã man, còn nhân dân lao động ở đâu cũng cực
khổ vô cùng. Và “muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác
con đường cách mạng vô sản”.
Đánh
giá đúng vai trò của thực tiễn, của hoạt động thực tiễn cho nên trong quá trình
chỉ đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải kết hợp đúng đắn
mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Người thường xuyên nhắc nhở phải đề phòng
cách làm rập khuôn giáo điều, cần xuất phát từ thực tế để tìm con đường đi riêng
phù hợp với tình hình và đặc điểm của Việt Nam. Đặc biệt khi “đứng về mặt xây
dựng chủ nghĩa xã hội, tuy chúng ta có những kinh nghiệm dồi dào của các nước
anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm đó một cách máy
móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”[6].
Chính vì thế, nếu không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học
tập kinh nghiệm của các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa
giáo điều. Cho nên, mỗi công tác phải hợp với từng nơi, từng lúc, từng hoàn
cảnh. Mọi
lời giải đáp cho các vấn đề xã hội chỉ có thể đúng đắn và phù hợp khi tìm tòi từ
chính thực tế đời sống xã hội. Xã hội tồn tại và phát triển theo những quy luật
riêng của nó, nghiên cứu xã hội là quá trình tìm hiểu, phát hiện những quy luật
vận hành của xã hội, muốn tìm những giải pháp đáp án đúng đắn để giải quyết
những vấn đề xã hội nảy sinh, không thể không nghiên cứu, tìm lời giải từ chính
thực tế đời sống xã hội.
Như
vậy, nghiên cứu xã hội, phải hướng vào nghiên cứu những vấn đề xã hội cấp bách,
có thật trong đời sống xã hội. Nghiên cứu phải tôn trọng sự thật, để phản ánh
đúng bản chất của hiện tượng xã hội, vấn đề xã hội. Mọi vấn đề xã hội không thể
luận giải đơn thuần bằng những biện lý cao sang mà cái thuyết phục nhất, hợp lý
nhất là những lời giải đáp tìm tòi từ chính thực tiễn đời sống xã
hội.
2.
Giải thích, chứng minh một hiện tượng xã hội bằng nhiều hiện tượng xã hội thực
tế và phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng xã hội để vạch rõ bản
chất xã hội của vấn đề nghiên cứu.
Một nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa duy vật biện chứng là mọi sự vật, hiện tượng có liên hệ mật thiết với
nhau, ràng buộc nhau; do vậy phải xem xét các sự vật, hiện tượng trong sự ràng
buộc lẫn nhau đó. Trong các bài nói, bài viết của Người thể hiện rất rõ nguyên
lý cơ bản trên.
Trước
hết khi phân tích hiện thực xã hội, Người thường sử dụng nhiều hiện tượng xã hội
có thật để làm rõ bản chất của một hiện tượng xã hội cần luận
giải. Khi
nói về vấn đề cán bộ. Người nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “là dây
chuyền của bộ máy”. Cắt nghĩa thế nào là một người cán bộ tốt? Người khẳng định:
cán bộ tốt phải “vừa hồng vừa chuyên”, “vừa có đức vừa có tài”, cán bộ tốt phải
có đầy đủ: “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”. Biểu hiện trong thực tế, cán bộ tốt
là: “Đi đến nơi nào có cán bộ
tốt thì cảnh tượng tốt bày ngay ra trước mắt: Đồng bào tản cư
đi qua đó, đều được giúp đỡ. Bộ đội đóng quân ở đó, hoặc đi qua đó, được úy lạo.
Ngày nào cũng thấy dân quân và tự vệ tập tành... Nói tóm lại: nơi nào cán bộ
tốt, thì cả vùng đó hoạt động như một bộ máy. Và cả vùng đó tỏ ra một bầu không
khí hăng hái, vui vẻ”[7].
Mọi
vấn đề xã hội, hiện tượng xã hội đều phát sinh và gắn bó với đời sống xã hội,
đều có “dấu ấn” của nó trong thực tiễn xã hội. Cách phân tích vấn đề của Người
gợi mở một phương pháp xem xét thực tiễn: muốn hiểu sâu sắc một
vấn đề xã hội, cần phải tìm hiểu những vấn đề xã hội khác có liên quan tới
nó. Nghiên cứu các hiện tượng xã hội - theo cách của Hồ Chí
Minh - không thể dừng lại ở
việc mô tả hiện tượng xã hội đang nghiên cứu đơn thuần về mặt lý thuyết mà nó
phải được mô tả bằng những chất liệu thực tiễn, tức là bằng những dấu hiệu xã
hội thực tiễn (biểu hiện là hệ thống hoạt động xã hội, quan hệ
xã hội, tương tác xã hội, các nhóm xã hội). Có như vậy, người ta mới có thể thấy
được quy mô, hình thức biểu hiện, vận hành của hiện tượng xã hội đó trong thực
tế.
Quá
trình luận giải các vấn đề xã hội, rất nhiều lần Hồ Chí Minh vận dụng linh hoạt
phương pháp phân tích nhân quả giữa các hiện tượng xã hội, để rút ra kết luận.
Việc Hồ Chí Minh phân tích vấn đề giảm tô cho nông dân, là một biểu hiện mẫu mực
về phân tích mối quan hệ nhân quả và phân tích chính sách xã hôi:
“... Triệt để giảm
tô, thực hiện
giảm tức. Đó
là một việc rất công bằng và hợp lý... Nông dân ta có công với Tổ quốc thì triệt
để giảm tô, là bù đắp lại phần nào cho công lao của nông dân... Có lợi cho những
nhà công nghệ, tiểu công
nghệ và thương nghiệp, vì nông dân sinh hoạt khá, thì sẽ mua
nhiều hàng, công nghệ và thương nghiệp sẽ càng phát triển. Có lợi cho những
người trí thức, nhà văn
hóa. Vì nông dân “bụng no thì lo học” và văn hóa nhân dân ngày
càng thêm phong phú. Có lợi cho quân
đội. Vì sẽ đoàn kết được chặt chẽ đại đa số nông dân và củng cố
thêm công nông liên minh là nền tảng của mặt trận”[8].
Các
hiện tượng xã hội tồn tại trong đời sống xã hội đa dạng và phong phú, đối với
người bình thường, tưởng như chúng tồn tại sự ngổn ngang, rối loạn vô phương
hướng. Nhưng với một tác phong sâu sát thực tiễn, sự hiểu biết thấu đáo mọi vấn
đề, Người đã vạch rõ cơ
chế liên hệ giữa các vấn đề xã hội, không phải là những liên hệ trìu tượng mà là
những liên hệ có thể quan sát được. Không có cách thuyết phục
nào hơn là dùng chính những quan hệ nhân quả thực tiễn ấy để khẳng định hay kết
luận về một vấn đề xã hội.
Xã
hội tồn tại chằng chịt các mối quan hệ xã hội của chính những con người xã hội
và các nhóm xã hội trong xã hội. Mọi hiện tượng xã hội bao giờ cũng gắn với một
nhóm xã hội, một cộng đồng xã hội nhất định, không bao giờ nó là của riêng của
một cá nhân nào. Mọi hiện tượng xã hội xẩy ra trong đời sống thực tiễn đều có
nguyên nhân từ chính xã hội, cắt nghĩa các vấn đề thực tiễn, nếu chỉ dựa vào lý
thuyết thì giỏi lắm cũng chỉ dừng lại ở mức độ phỏng đoán, còn nếu dựa vào bằng
cứ thực tế thì hoàn toàn có thể chứng minh được. Do vậy luận giải vấn
đề xã hội không thể thoát ly đời sống xã hội, phải phát hiện được các mối quan
hệ nhân quả giữa chúng, phải tìm được các “bằng cứ” xã hội (càng nhiều càng tốt)
để suy luận, để đưa ra kết luận đúng đắn.
3.
Phân tích các vấn đề xã hội của một nhóm xã hội phải gắn chặt với thực tế đời
sống dân sinh, đặc trưng xã hội của nhóm xã hội đó, để có những luận giải đúng,
trúng, sát thực tiễn.
Từ
những vấn đề lớn lao của cách mạng đến những vấn đề thường nhật hàng ngày, với
cách lý giải của Người thì dù là trí thức hay là nông dân, người dân ở những bản
vùng cao hay ở một làng chài ven biển đề có thể hiểu được và làm theo được. Có
hiểu được dân thì mới giúp đỡ được dân, có hiểu được dân thì mới có thể viết cho
dân dễ hiểu, phân tích cho dân dễ tin, dễ thấy làm cho dân có thể làm theo. Bởi,
“trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác
nhau. Có lớp tiên tiến, có lớn chừng chừng, có lớp lạc hậu”[9].
Dân cư đa dạng về cơ cấu, do vậy cách lý giải phân tích vấn đề xã hội không thể
đánh đồng. Khi viết hay nói chuyện với một nhóm dân cư cụ thể, Hồ Chí Minh
thường sử dụng những đặc điểm
về cấu trúc, quan hệ xã hội, hoạt động xã hội, mô hình văn hóa của nhóm dân cư
đó làm phương tiện để phân tích luận giải vấn đề của chính nhóm
đó.
Thực
tiễn đời sống xã hội luôn cụ thể nhưng sinh động, dễ thấy song khó kiểm tra, dễ
hiểu nhưng khó khái quát, dễ thấy cái chung nhưng rất khó cắt nghĩa cho đúng,
cho trúng cái riêng. Theo cách phân tích vấn đề của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy
rằng: Muốn luận giải một vấn
đề xã hội của một nhóm xã hội cho đúng cho sát thì phải bám vào thực tế đời sống
của nhóm xã hội đó. Để từ chỗ phân tích các đặc trưng về cấu trúc, đặc thù trong
các hoạt động xã hôi, quan hệ xã hội, đặc điểm văn hóa tìm ra những khác biệt xã
hội. Phân tích chính xác những khác biệt xã hội để tìm ra những điểm tương đồng,
tạo cơ sở cho sự đoàn kết, sự thống nhất hành động nhằm giải quyết các vấn đề xã
hội. Nghiên cứu các vấn đề xã hội của một nhóm xã hội cụ thể,
không nên có một sự áp đặt hay sự đánh đồng, mà phải chính từ nội tình của từng
nhóm xã hội tìm lời giải cho các vấn đề thực tiễn của chính nhóm đó. Cách làm
riêng rất phong phú, nhưng đều phải thực hiện một mục đích chung là ổn định,
tiến bộ xã hội.
Khi
nói chuyện với các tầng lớp dân cư hay khi viết về các hiện tượng xã hội của các
tầng lớp nhân dân, nhiều khi là của một tỉnh, một huyện hay có lúc là một làng,
một bản, một nông trường một xí nghiệp, Hồ Chí Minh không bao giờ đề cập tới
những chuyện xa xôi, những vấn đề chung chung ít nghĩa, mà Người đề cập ngay tới
những vấn đề bức xúc hàng ngày của đời sống dân cư. Phân tích một vấn đề
xã hội của một nhóm dân cư, Người luôn gắn với những vấn đề trọng yếu của đời
sống dân sinh như việc ăn, ở, sản xuất, học tập, phòng chữa
bệnh... Theo
cách phân tích của Hồ Chí Minh, các vấn đề xã hội của từng nhóm dân cư rất cụ
thể không bắt đầu từ việc phân tích các vấn đề xã hội của từng nhóm dân không
thể không bắt đầu từ việc phân tích các vấn đề “cốt tử” ấy, cũng chính các vấn
đề ăn, mặc ở, sản xuất, học hành... là cơ sở quy định mọi hoạt động, quan hệ xã
hội của con người. Một vấn đề xã hội chỉ được nhận thức và giải quyết trên thực
tế, khi nó tìm được “động lực” từ trong hệ thống các quan hệ xã hội, hoạt động
xã hội hàng ngày của mọi tầng lớp dân cư. Mọi cách lý giải, phân
tích không tính đến việc phân tích đời sống sinh hoạt, sản xuất, văn hóa của đời
sống dân sinh đều là những phân tích phi thực tế.
4.
Diễn giải thuật ngữ khoa học bằng ngôn ngữ của đời sống xã hội, làm cho nó dễ
hiểu, dễ nhớ.
Các
vấn đề xã hội có tính trừu tượng rất cao, song qua cách phân tích của Hồ Chí
Minh, nó luôn được cụ thể hóa, hiện thực hóa sinh động. Các khái niệm khoa
học, thuật ngữ có tính khoa học trong các bài viết của Người luôn được diễn đạt
bằng những ngôn từ của cuộc sống bằng những chất liệu của chính thực tế đời
sống, cho nên mọi người dân rất dễ hiểu dễ nhớ. Một nhà báo
Pháp đã nhận xét: “Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông. Ông
thông thạo bảy thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm, trái lại
ông chỉ dùng những câu nôm na, khiến cho một người dù quê mùa, chất phác nghe
cũng hiểu ngay được”[10].
Nhiều
khi chỉ bằng một vài từ hoặc một vài hình ảnh, Người có thể trình bày những vấn
đề rất phức tạp: Nói về chủ nghĩa đế
quốc, Người không luận giải dài dòng, mà dùng hình ảnh để vạch rõ bản chất:
“Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính
quốc chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu
người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”[11]. Nói về mối liên hệ
giữa hai mặt chính trị và quân sự trong xây dựng lực lưỡng vũ trang, Người
khẳng định: “Chính trị trọng hơn quân sự”, “Quân sự mà không có chính trị như
cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Viết về vai trò quần
chúng nhân dân, Người nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn
lần dân liệu cũng xong”. Lý giải về chủ nghĩa
xã hội, Người diễn tả mộc mạc: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý, làm
nhiều hưởng nhiều làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng, những người già
yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”... Đấy chính là điều để lý
giải quan điểm của Người khi chủ trương: “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”.
Cho nên một mặt Người phân tích các vấn đề xã hội bằng những ngôn từ giản dị,
hình ảnh mộc mạc giúp mọi người dễ hiểu dễ nhớ. Mặt khác những hiện tượng có
tính lý luận trìu tượng Người luôn cụ thể hóa hiện tượng đó bằng những hình anhr
của thực tế.
Luôn
luôn quy các khái niệm khoa học, các thuật ngữ về các hiện tượng có thật trong
đời sống xã hội là một phương pháp phân tích được Hồ Chí Minh sử dụng trong rất
nhiều bài viết, bài nói. Với mọi tầng lớp dân cư vào mọi thời đoạn của cách
mạng, cách phân tích vấn đề của Người vừa có ý nghĩa to lớn trong cải tạo thực
tiễn vừa có ý nghĩa về mặt phương pháp trong nghiên cứu xã hội. Đây là một sự
gắn kết tuyệt vời giữa lý luận và thực tiễn, giữa đời sống tinh thần và đời sống
vật chất, giữa nhận thức và hành động. Không có cái cốt vật chất, đời sống tinh
thần không biểu hiện ra được, không gắn với thực tiễn đời sống xã hội, không có
các hình ảnh thực tế, số liệu thực tế minh họa, mọi khái niệm khoa học chỉ dừng
lại ở mặt câu chữ mà thôi, hoàn toàn bất lực, xa lạ trước thực tiễn xã
hội.
Cách
diễn giải các vấn đề xã hội, các khái niệm, thuật ngữ của Hồ Chí Minh là quá
trình cụ thể hóa, thực tế hóa giúp cho mọi người định hình được công việc, định
lượng được vấn đề, định danh được khái niệm, quan sát kiểm chứng được vấn đề lý
luận trong đời sông xã hội.
KẾT
LUẬN
Phương
pháp thực tiễn Hồ Chí Minh là: Nghiên cứu các vấn đề
xã hội phải là những vấn đề có thật trong thực tế, phải tôn trọng sự thật dùng
thực tế chứng minh cho thực tế. Coi trọng vai trò định hướng của lý luận nhưng
mọi lời giải đáp cho các vấn đề của cuộc sống phải tìm tòi từ chính thực tiễn
đời sống xã hội. Luận giải các vấn đề xã hội phải có hệ thống chặt chẽ, tiếp cận
nhiều chiều, sử dụng nhiều hiện tượng xã hội có thật để khẳng định một hiện
tượng cần lý giải. Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng xã hội để
rút ra kết luận có cơ sở vững chắc. Phân tích nghiên cứu hiện tượng xã hội của
một nhóm xã hội nào thì dùng ngay đặc trưng cấu trúc, vị trí xã hội, quan hệ xã
hội và mô hình văn hóa của nhóm đó để làm rõ vấn đề xã hội của chính nhóm xã hội
đó. Diễn giải thuật ngữ khoa học bằng ngôn ngữ của đời sống xã hội, làm cho nó
dễ hiểu dễ nhớ và có thể đo lường lượng hóa chính xác.
Tính
khoa học, hiệu quả thực tế của phương pháp thực tiễn Hồ Chí Minh được minh chứng
bằng chính những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Người. Tổng
kết thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua, Đảng ta rút ra bài học: Sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh
chính trị và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết cảc vấn đề do thực tiễn cách
mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, tôn
trọng quy luật khách quan.
DANH
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Trường Chinh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp vĩ đại, gương sáng đời đời” Nxb ST, H,
1980.
2.
Lê Duẩn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta” Nxb ST,
H, 1986.
3.
Phạm Văn Đồng: “Hồ Chí Minh một con người một dân tộc một thời đại một sự
nghiệp” Nxb ST, H. 1990.
4.
Võ Nguyên Giáp: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam “ Nxb
CTQG, H. 1997.
5.
Trần Văn Giàu: “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” Nxb CTQG, H.
1997.
6.
Nguyễn Việt Hồng: “Bác Hồ con người và phong cách” Nxb LĐ H, 1997. Nxb CTQG, H.
1998.
7.
Đinh Xuân Lâm (chủ biên): “Hồ Chí Minh văn hóa và đổi mới” Nxb LĐ, H.
1998.
8.
Phan Ngọc Liên: “Hồ Chí Minh từ nhận thức lịch sử đến hành động cách mạng” Nxb
CTQG, H. 1999.
[1] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập 6,
tr.248.
[2] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập 8, tr.497-498.
[3] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập 8,
tr.216.
[4] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập 7,
tr.118.
[5] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập 6,
tr.251.
[6] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập 1,
tr.XII.
[7] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd.,
tập 5, tr.139.
[8] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập
7, tr.44-45.
[9] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập
5, tr.296.
[10] Tuần
báo Đây Paris ra ngày 18-6-1946.
[11] Hồ
Chí Minh (2000), Sđd., tập
1. tr.298.
SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HOÁ ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
08:19
Trong
tiến trình lịch sử xã hội, mỗi nền văn hoá nhất định luôn đóng vai trò cực kỳ
quan trọng trong việc hình thành nên một kiểu mẫu con người nhất định. Văn hoá
không những là thước đo trình độ người đối với cộng đồng mà còn đối với từng con
người cụ thể. Người có văn hoá là người biết, hiểu và hành động đúng, là người
mà giữa tư tưởng, lời nói và việc làm luôn thống nhất với nhau. Sự tồn tại trọn
vẹn của mỗi cá nhân trong quá trình phát triển toàn diện năng lực sáng tạo, trí
tưởng tượng, đời sống tình cảm và cả thể lực đều là các hiện tượng cơ bản của
văn hoá. Do đó, vấn đề trung tâm của quá trình phát triển văn hoá bao giờ cũng
là vấn đề xây dựng con người. Đảng ta khẳng định: "Con
người là
trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển". Chính vì
thế, chúng ta cần phải "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng,
thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết
chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần
vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển"[1].
Quá
trình nhập thân văn hoá
Vai
trò của văn hoá trong xây dựng con người trước
hết là định
hướng giá trị đối với quá trình nhập thân văn hoá của từng cá nhân nhằm hình
thành, phát triển nhân cách. Khái niệm nhập thân văn hoá bao
hàm tổng thể và tổng hoà của sự truyền thụ và tiếp nhận giá trị,
sự giáo dục và chấp nhận giá trị, sự rèn giũa theo giá trị và tôn vinh giá trị,
sự phản biện và làm toả sáng giá trị, sự phát triển và tái sáng tạo giá trị.
Thực chất nhập thân văn hoá là quá trình gồm hai mặt: tự biến mình thành một
nhân cách văn hoá của cộng đồng; sáng tạo văn hoá và góp nhân cách văn hoá của
mình vào văn hoá cộng đồng
Con
người chuyển từ đời sống bầy đàn sang đời sống xã hội thì môi trường sống của họ
đồng thời chuyển dần sang môi trường văn hoá và ngày càng được văn hoá hoá,
nghĩa là làm cho mọi thành viên của xã hội trở nên có văn hoá, trở nên
có chất người. Chính
môi trường văn hoá đã cải biến con người - tự nhiên thành con người - xã hội và
làm cho nhân cách mỗi người ngày càng hoàn thiện. Cái đánh dấu sự phát triển bản
chất người trong lịch sử là sự lấn át, vượt trội, tiết chế của tính nhân văn
trước tính bản năng, hay nhân tính trước thú tính. Hơn nữa, tính nhân văn còn
làm cho tính bản năng của con người cũng được văn hoá hoá. Con người nặng về bản
năng thì "đói ăn vụng, túng làm càn", còn con người trọng nhân văn thì "đói cho
sạch, rách cho thơm".
Quá
trình phát triển và phát huy những giá trị người trong lịch sử xã hội cũng đồng
thời là quá trình con người từng bước chế ngự và làm chủ cái bản năng động vật
để ngày càng tách
khỏi động vật và thoát
khỏi động vật. Điều đó làm cho mỗi người không những có thể đối
diện với tự nhiên như một chủ thể đầy bản lĩnh, mà còn hình thành, phát triển
được chất
người của mình trong làm chủ xã hội, đồng thời làm chủ chính
bản thân mình. Chỉ có trong môi trường văn hoá, con người mới thực sự
thành Người. Quá
trình hình thành và phát triển nhân cách theo phương thức nhập thân văn hoá của
con người bao giờ cũng chỉ có thể diễn ra trong một môi trường văn hoá nhất định
mà nếu thoát ly khỏi đó, con người chỉ còn lại bản năng. Bởi vì, thực chất của
sự hình thành và phát triển nhân cách là việc tích luỹ, không ngừng làm tăng vốn
văn hoá của con người trong môi trường văn hoá. Tác động từ đời sống văn hoá hoá
của cộng đồng chỉ đạt hiệu quả cao khi được từng con người tiếp nhận một cách tự
giác. Trong cùng một môi trường văn hoá, kích thước văn
hoá của mỗi người chủ yếu tuỳ thuộc vào trình độ nhập thân văn
hoá cao hay thấp, toàn diện hay kém toàn diện, sâu sắc hay ít sâu
sắc.
Quá
trình nhập thân văn hoá diễn ra trong suốt cả cuộc đời mỗi con người. Phương
thức, trình độ, tốc độ, chiều sâu… nhập thân văn hoá luôn tuỳ thuộc vào trình độ
văn hoá đã tích luỹ trước đó. Khổng Tử đã chiêm nghiệm: tam thập nhi lập (tuổi
ba mươi là tuổi lập thân), tứ thập nhi bất hoặc (bốn mươi tuổi không còn nghi
ngờ những việc mình theo đuổi), ngũ thập nhi tri thiên mệnh (năm mươi tuổi có
thể dự đoán mọi sự), lục thập nhi nhĩ thuận (đến tuổi sáu mươi, người ta thường
chọn những điều dễ nghe để bảo ban con cháu). Tập tục truyền thống của một số
dân tộc còn quy định những thể lễ để công nhận trình độ nhập thân văn hoá của
các thành viên. Tục cắt bao quy đầu cho trẻ em ở người Hồi; tục cà răng, căng
tai ở đồng bào Bana, tục gửi tu trên chùa trước khi thành niên ở người Khơme,
Mianma... đều chỉ được tiến hành khi đến độ tuổi nhất định. Các quốc gia hiện
đại thường lấy độ tuổi mười tám để đánh dấu sự trưởng thành về nhân cách công
dân, và đó cũng chính là sự trưởng thành có thể chấp nhận của quá trình nhập
thân văn hoá từ trẻ em thành người lớn.
Quá
trình nhập thân văn hoá của con người còn làm cho từng nhân cách hấp thụ được
những nét bản sắc dân tộc độc đáo của văn hoá. Mặc dù không có sự khác biệt cơ
bản về kết cấu sinh học, nhưng do tiếp nhận nền văn hoá với bản sắc dân tộc khác
nhau mà nhân cách văn hoá mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại không hoàn toàn giống
nhau. Chẳng hạn, người dân miền biển quen "ăn sóng, nói gió" nên khoáng đạt
trong các mối quan hệ, trong khi người dân thị thành tinh tế, khôn khéo và pha
chút màu mè, kiểu cách, còn người dân miền núi lại chất phác, thật thà và người
dân nông thôn thì thuần hậu theo kiểu "quê mùa". Khi thay đổi môi trường sống,
những dấu ấn văn hoá đó về cơ bản vẫn còn in đậm, nhưng quá
trình tái nhập thân văn
hoá sẽ diễn ra trong sự tác động của môi trường văn hoá mới để
hình thành những nét tính cách mới.
Điều
cốt yếu trong quá trình nhập thân văn hoá nhằm hình thành và phát triển nhân
cách là mỗi người phải xác định đúng toạ độ văn
hoá của mình trong một môi trường văn hoá nhất định. Chỉ có
trên cơ sở ấy, mỗi cá nhân mới có thể thiết lập được mối quan hệ văn hoá với tự
nhiên, với xã hội, với người khác và với chính bản thân mình, từ đó nhìn nhận
đúng đắn về nghĩa vụ và quyền lợi, vinh dự và trách nhiệm, cống hiến và hưởng
thụ nhằm làm giàu vốn văn hoá toàn diện của bản thân và biết cách cư xử có văn
hoá. Một giám đốc giỏi phải đồng thời là một người chồng tốt, người cha mẫu mực,
người con có hiếu... thì mới trở thành một nhân cách có văn hoá. Song, nếu xác
định không đúng toạ độ văn hoá, chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng lệch chuẩn nhân
cách, "râu ông nọ cắm cằm bà kia", đưa lối xử sự gia đình chủ nghĩa vào công
việc và đem bệnh nghề nghiệp về áp đặt ở gia đình.
Có
hai phương thức nhập thân văn hoá là tiếp nhận theo trường lớp và tự tiếp nhận
văn hoá. Tiếp nhận theo trường lớp là quá trình nhập thân văn hoá nhờ được giáo
dục, đào tạo một cách hệ thống, cơ bản, theo bài bản nhất định. Phương thức này
thường bị giới hạn về không gian - thời gian và không phải tất cả mọi người đều
có đủ điều kiện để theo đuổi nghiệp học; hơn nữa, số vốn văn hoá được tiếp nhận
theo phương thức này không lớn và không đa dạng. Nhưng đó là những giá trị văn
hoá mang tính luận lý, có hàm lượng trí tuệ cao và có khả năng định hướng phương
pháp luận, nên giúp con người tránh được vấp váp, mò mẫm, phát minh
lại những phát minh... Còn phương thức tự tiếp nhận văn hoá thì
gắn liền với quá trình trưởng thành của cả đời người, được tiến hành mọi lúc,
mọi nơi. Nó đến với tất cả mọi người dù được tiếp nhận tự phát hay tự giác, có
hình thức hết sức phong phú, gắn liền với thực tiễn và chiếm hầu hết trong tổng
số vốn văn hoá cá nhân. Đồng thời, nó còn là nền tảng quyết định tính hiệu quả
của phương thức tiếp nhận có tổ chức.
Do
vậy, quá trình phát huy vai trò của văn hoá trong xây dựng con người luôn đòi
hỏi phải kết hợp chặt chẽ cả hai phương thức nói trên. Và dù nghiêng theo phương
thức nào thì quá trình nhập thân văn hoá cũng chỉ có thể diễn ra trong một môi
trường văn hoá nhất định. Con người sáng tạo văn hoá, vun đắp nên những nền văn
hoá và đến lượt nó, văn hoá của từng thời đại bồi bổ, chắt chiu chất
người ở con người. Sự sáng tạo lẫn nhau đó được thực hiện thông
qua tất cả các hoạt động sống của con người trong tiến trình lịch sử và tạo nên
môi trường văn hoá để nuôi dưỡng con người về phương diện văn
hoá.
Giáo
dục con người về văn hoá và bằng văn hoá
Văn
hoá thực hiện chức năng giáo
dục mà nhờ đó tác động trực tiếp tới sự hình thành và phát
triển nhân cách toàn diện, tới mọi mặt đời sống tinh thần và phát huy tối đa
tiềm năng của con người. Giáo dục con người là chức năng xã hội bao trùm của văn
hoá, thể hiện ở việc định hướng lý tưởng, đạo đức, hành vi... của con người và
cộng đồng theo hệ chuẩn chân, thiện, mỹ. Với chức năng này, văn hoá trở thành
động lực hết sức cơ bản tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử nhân loại và
từng dân tộc, như sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai, duy trì và
phát triển truyền thống bản sắc độc đáo của từng dân tộc. Tuy nhiên, điều đó chỉ
đạt hiệu quả cao khi quá trình giáo dục được biến thành tự giáo dục, tức là
thành quá trình nhập thân văn hoá, để biến những yêu cầu của nếp sống có văn
hoá, kỷ cương, pháp luật… của xã hội thành hệ thống động cơ, thái độ bên trong
của mỗi người dân, làm cho quá trình xây dựng con người trở thành quá trình tự
xây dựng, tự phát triển, hoàn thiện.
Nâng cao
dân trí là chức năng xã hội hàng đầu của văn hoá. Một tác phẩm nghệ thuật cùng
với việc làm rung cảm trái tim người thưởng thức thì cũng được thấu hiểu và mang
tới cho họ những hiểu biết mới về tự nhiên, xã hội, cuộc sống, con người... Nhờ
có chức năng này và thông qua thực hiện chức năng này, văn hoá góp phần trang bị
hệ thống tri thức trong suốt lịch sử phát triển của con người và cộng đồng, làm
cho thế hệ sau đứng trên vai thế hệ trước với tầm nhìn ngày càng rộng mở. Văn
hoá còn tạo điều kiện để từng cộng đồng nâng cao dân trí về mọi mặt, qua đó bồi
bổ vốn văn hoá của con người. Chức năng nâng cao dân trí của văn hoá không chỉ
được phản ánh trong lý luận văn hoá chuyên ngành, mà còn thể hiện một cách đa
dạng, phong phú và sinh động ở chiều rộng, chiều sâu của các ngành khoa học
khác. Trên thực tế, việc trang bị các tri thức khoa học tự nhiên, khoa học - kỹ
thuật, khoa học xã hội và nhân văn… đều là quá trình là truyền thụ những giá trị
văn hoá.
Văn
hoá góp phần xây dựng, phát triển nhân cách toàn diện của con người thông qua
chức năng điều chỉnh xã
hội của nó. Xã hội là một hệ thống tổ chức hoàn chỉnh, trong đó
mỗi cá nhân sống và hoạt động theo những quy tắc, chuẩn mực nhất định mà cộng
đồng đã xác lập nhờ cách thức văn hoá hoá. Một mặt, văn hoá góp phần điều chỉnh
mọi quan hệ xã hội và hành vi con người theo một định hướng, lý tưởng, mục tiêu
nhất định, do đó làm cho xã hội vận hành bình thường. Mặt khác, văn hoá thường
xuyên bổ sung hệ thống chuẩn mực ứng xử, quan hệ xã hội và loại bỏ dần những
chuẩn mực đã lỗi thời, lạc hậu. Cùng với việc thực hiện chức năng ấy, văn hoá
còn tự điều chỉnh để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, đúng hướng của chính nó,
đấu tranh chống lại những yếu tố có xu hướng phản chân, phản thiện, phản mỹ.
Những yêu cầu của nếp sống văn minh, đạo lý, kỷ cương, phép nước... nếu được áp
đặt thông qua con đường hành chính đơn thuần hoặc chỉ bằng biện pháp giáo dục
chung chung, xa rời thực tế sẽ trở nên cứng nhắc, gượng ép, hiệu quả không cao.
Nhưng khi được chuyển hoá thành yếu tố của văn hoá, những yếu cầu đó sẽ thấm vào
đời sống và hoạt động của con người và cộng đồng một cách hoàn toàn tự
nhiên, trở thành những thuộc tính bên trong của từng thành viên với độ bền
vững cao.
Văn
hoá thông qua chức năng thẩm
mỹ tạo ra những tiền đề cần thiết để con người tiếp tục sáng
tạo những giá trị văn hoá tiên tiến, mở rộng giao lưu văn hoá qua những hình
thức hoạt động và thiết lập những quan hệ văn hoá lành mạnh, từ đó hình thành
những yếu tố mới trong phẩm chất, năng lực toàn diện của con người. của văn hoá.
Nhu cầu và khả năng hướng tới cái đẹp là dấu hiệu cơ bản nói lên trình độ phát
triển những giá trị người ở mỗi cá nhân và cộng đồng, đồng thời là một trong
những động lực quan trọng tạo nên sự tiến bộ xã hội. Thực tiễn lịch sử nhân loại
đã chứng minh rằng, mỗi bước tiến của xã hội cũng là một bước con người vươn tới
cái đẹp. Nếu không biết rung động trước cái đẹp, không biết trân trọng cái đẹp
và tìm mọi cách thức để sáng tạo nên cái đẹp, thì con người dù giàu có, giỏi
giang, hiểu rộng biết sâu… cũng không thể được coi là con người có văn hoá một
cách hoàn chỉnh.
Chính quá
trình sáng tạo, truyền toả, phát huy giá trị của các hình tượng nghệ thuật là
quá trình văn hoá góp phần định hướng cảm xúc, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ và
khơi gợi, bồi dưỡng khả năng, nhu cầu thẩm mỹ của con người. Văn hoá còn đóng
vai trò quan trọng đối với việc hình thành những yếu tố mới trong phẩm chất,
năng lực toàn diện của từng người, góp phần hoàn thiện con người và cộng đồng
theo tiêu chí cái đẹp. Vai trò này không tách rời vai trò nâng cao dân trí và
hướng tới làm cho văn hoá thực hiện tốt chức năng giáo dục cũng như các chức
năng khác như giao tiếp, giải trí, dự báo, phê phán, tích luỹ, bảo quản và
truyền bá thông tin.
Khẳng
định vai trò to lớn của văn hóa, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor cũng nhấn
mạnh: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay,
bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn
hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau (...). Hễ nước nào tự đặt ra cho
mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ
xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng
sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều. Một sự phát triển chân chính đòi
hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng. Vì vậy
phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển
phải được tìm trong văn hóa (...). Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một
nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn
hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội...”[2].
Điều đó cho thấy, khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã
hội, cũng như các giá trị đạo đức và văn hoá, quy định sự nảy nở và phẩm giá con
người trong xã hội. Nếu như con người là nguồn lực của phát triển, nếu như con
người vừa là tác nhân lại vừa là người được hưởng, thì con người phải được coi
chủ yếu như là sự biện minh và là mục đích của sự phát triển.
Xác định
văn hoá là mục tiêu của sự phát triển xuất phát từ nhận thức đúng bản chất của
văn hoá và quan niệm đúng về sự phát triển, bởi mục tiêu cuối cùng của một xã
hội có một nền văn hoá tiên tiến chính là phát triển con người, đó cũng chính là
quy luật phát triển của lịch sử. Con người đó phải là con người thật sự có hạnh
phúc, đó là con người toàn diện theo chuẩn mực giá trị văn hoá. Con người là yếu
tố quyết định nhất của sự phát triển kinh tế xã hội, mà nguồn lực này lại nằm
trong văn hoá bởi văn hoá là sản phẩm sáng tạo của con người. Cho nên xây dựng
nền văn hoá Việt Nam cũng chính là xây dựng và phát huy nguồn lực con người, đó
là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển. Tiềm năng sáng tạo của con người
chính là tiềm lực văn hoá xã hội, nên khi xây dựng đường lối chiến lược phát
triển kinh tế xã hội, phải lấy việc phục vụ con người là mục đích, lấy văn hoá
làm mục tiêu và động lực. Con người đã sáng tạo văn hoá thông qua hoạt động thực
tiễn có ý thức của chính mình, khi đó con người là chủ thể của văn hoá. Nhưng
đồng thời những giá trị văn hoá lại phục vụ cho mục đích nâng cao giá trị cuộc
sống của con người, khi đó con người là khách thể của văn hoá.
Tóm lại, sự tác động của văn hoá
đến quá trình xây dựng con người là sự tác động toàn diện, sâu sắc với rất nhiều
phương thức, cách thức và góc độ khác nhau. Định hướng đúng đắn sự tác động đó
trong một chỉnh thể thống nhất hữu cơ chính là tạo ra một trường văn hoá lành
mạnh, năng động; đồng thời, xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp là nhằm lành
mạnh hoá, năng động hoá các phương diện đó. Điều này có ý nghĩa quyết định đến
sự hình thành và phát triển nhân cách con người theo hướng ngày một văn hoá hơn.
Bởi vì, nói đến vai trò của văn hoá đối với xây dựng con người là nói đến tổng
thể những điều kiện nuôi dưỡng, vun đắp, phát triển nhân cách con người cả về
mặt văn hoá văn hoá vật chất và mặt văn hoá tinh thần.
[1] Đảng
Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI¸ Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.76.
[2] Ủy
ban quốc gia về Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa, Thập kỷ thế giới phát
triển văn hóa. Bộ văn hóa Thông tin và thể thao, H, 1992,
tr.23.